History & Today‎ > ‎

Photo war

 64 đôi đũa, 64 cái bát trong bữa giỗ Gạc Ma
Ngồi nơi bậc cửa nhìn về phía biển xa với khóe mắt ươn ướt. “Hôm nay là lần giỗ thứ 27 của các con tui tại đảo Gạc Ma rồi. Tui mần mâm cơm tưởng nhớ...” - cụ ngậm ngùi.
Trưa 6/3, nhà của cụ ông Hoàng Dỏ ở thôn Tân Định, xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh, Quảng Bình) đông hơn bình thường. Một chiếc bàn vuông cạnh khá lớn được bày ra nơi góc sân. Cụ đã bước qua tuổi 88, và gọi tất cả 63 liệt sĩ cùng hy sinh với con mình tại Gạc Ma là con. Con trai cụ là liệt sĩ Hoàng Văn Túy.
Đúng 11h trưa, cụ Dỏ mới lọm khọm ra bàn cúng giữa sân để thắp hương. Mắt cụ đã mờ, chân cụ đã yếu và lưng đã còng nên cụ bước đi khá khó nhọc.

Cụ lấy thìa múc từng thìa cháo trắng đổ lần lượt vào các chồng bát đã sắp sẵn rồi rơm rớm mắt nhìn về phía biển đọc lời khấn: “Hôm nay là tròn 27 năm các con nằm lại giữa biển khơi vì chống lại bọn bành trướng Trung Quốc. Các con đã hy sinh vì bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Bọ (ba) không có chi hơn, chỉ có ba chén rượu lạt và nén hương thơm thắp lên đây mời các con cùng về dự...”.

Nói tới chừng đó, cụ Dỏ bật khóc. Tay cụ cầm nén hương run run như muốn rớt. Mọi người phải đỡ cụ vào nhà để nghỉ ngơi sau đó. Anh Vũ nói dù sức khỏe đã yếu lắm nhưng năm nào cụ Dỏ cũng muốn được tự tay thắp cho con nén hương cũng như nhắn với con những lời tâm sự như thế. Và năm nào cụ cũng khóc.

Anh Túy nhập ngũ năm 1985. Trước khi hy sinh anh Túy được về ăn tết với gia đình hai ngày. Anh Túy nói với cụ Dỏ rằng chỉ khoảng ba tháng nữa là sẽ được ra quân. Nhưng chỉ chưa đầy một tháng sau anh hy sinh tại Gạc Ma khi cùng đồng đội bảo vệ đảo trước quân Trung Quốc xâm lược.

Nhà cụ Dỏ nằm cách bờ biển chỉ vài chục mét. Và mâm cúng giữa sân cũng được cụ Dỏ bảo con cháu đặt xoay về hướng đó, dù theo thông lệ người ta thường đặt bàn cúng theo hướng tây nam.

Anh Vũ kể rằng chỉ khi đặt bàn giỗ cho anh Túy và những liệt sĩ Gạc Ma, cụ Dỏ mới bắt con cháu đặt bàn theo hướng đông như thế. Những ngày giỗ khác trong nhà, kể cả giỗ của mẹ anh, cụ Dỏ đều đặt lại hướng tây nam như thường.

Hai năm sau ngày anh Túy hy sinh cùng 63 liệt sĩ Gạc Ma, cụ Dỏ cứ chiều nào cũng đi ra bờ biển đầu làng nhìn về hướng đó. Có lần anh thắc mắc về chuyện đặt bàn cúng, cụ Dỏ nói: “Các con đều đang nằm lại giữa biển khơi. Đặt bàn cũng như đặt tâm trí của mình rứa, luôn hướng về phía các con nằm để thêm gần gũi”.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


---HẢI CHIẾN TRƯỜNG SA 14/3/1988 KHÚC CA BI TRÁNG CỦA HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM---

Trong hai tháng đầu năm 1988 Trung Quốc bất ngờ đổ quân chiếm đóng trái phép các bãi đá trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trong đó có những bãi đá xen kẽ rất gần những đảo do Hải Quân nhân dân Việt Nam đã kiểm soát. Nhằm ngăn chặn việc chiếm đóng trái phép tiếp diễn, quân chủng Hải Quân đã gấp rút vận chuyển vật liệu khí tài để đóng giữ 6 bãi đá khác. Và cho tới đầu tháng 3 năm 1988 đã bắt đầu ngăn chặn tích cực mở rộng phạm vi chiếm đóng trái phép của đối phương. Nhận thấy các đảo trong cụm đảo Sinh Tồn là con đường trọn yếu vận chuyển hàng của quần đảo Trường Sa. Quân chủng HQ đã nhanh chóng điều động các tàu vận tải mạng khí tài cùng vật liệu trong chiến dịch mang tên CQ-88 để nắm giữ các bãi đá này không để chúng rơi vào tay địch Chiều ngày 13-3-1988 các hàu HQ-604, HQ-605, HQ-505 đã bắt đầu tiếp cận các bãi đã Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao…
Các lực lượng hải quân công binh chuyển vật liệu xuống đảo, cắm cờ chủ quyền phòng thủ, giữ vững chủ quyền các đảo. Chiều ngày hôm đó các tàu Trung Quốc tiếp cận và áp sát gọi loa khiêu khích các chiến sĩ của ta vừa đóng giữ trên bãi Gạc Ma, Cô Lin… Quân chủng hải quân nhận định TQ âm mưu khiêu khích vũ trang nhằm ý đồ leo thang xung đột tạo cớ làm bùng phát chiến tranh tổng lực đánh chiếm các đảo do HQ VN kiểm soát. Tuân thủ tuyệt đối mệnh lệnh của cấp trên thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy tàu HQ 604 cùng anh em trên các bãi đá Gạc Ma, Cô Lin vẫn động viên nhau giữ bình tĩnh tránh mọi sự khiêu khích của đối phương, Trung Quốc tiếp tục huy động thêm nhiều tàu khác nhằm khiêu khích các chiến sĩ đang chốt đảo. Chiều 13 sáng 14-3-1988 các chiến sĩ chốt trên các bãi đá nhẫn nhịn, tránh tất cả các sự khiêu khích từ đối phương….Căng thẳng kéo dài từ chiều ngày 13/3/1988 cho đến rạng sáng ngày 14/3/1988 nhưng các chiến sỹ HQNDVN vẫn kiên nhẫn nín nhịn tránh mọi sự khiêu khích của kẻ thù 6h sáng 14/3/1988 TQ thả hàng chục thuyền nhôm và lính có vũ trang xông thẳng về phía bãi đá Gạc Ma để hạ cờ VN và dùng vũ lực uy hiếp hòng buộc quân ta phải rút khỏi đảo. Trong trận chiến giữ cờ tại bãi đá Gạc Ma thiếu úy Trần Văn Phương đã anh dũng hi sinh khi tay không giữ vững lá ờ Tổ Quốc, trước khi hi sinh anh đã hô to "Thà hy sinh chứ không để mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của quân chủng hải quân". Không uy hiếp được HQ và công binh Việt Nam rút khỏi bãi đá Gạc Ma quân đổ bộ phải rút khỏi tàu chiến của chúng và rồi. Hàng loạt đại liên từ tàu chiến TQ đã thảm sát toàn bộ các chiến sỹ HQ công binh đang chốt giữ trên bãi đá Gạc Ma khi đó là 7h30p sáng ngày 14/3/1988, không dừng lại ở đó chúng còn bắn chìm tàu vận tải HQ-604 cho đến khi toàn bộ thủy thủ và thuyền trưởng Vũ Phi Trừ hi sinh theo tàu HQ604, tàu vận tải HQ505 chốt giữ bãi Cô Lin, HQ 605 chốt giữ bãi Len Đao phải hứng chịu làn đạn dày đặc từ tàu chiến của đối phương. HQ505 kịp ủi bãi Cô Lin và hư hỏng nặng, HQ505 chìm hẳn vaò sáng 15/3/1988........... Hãy ghi nhớ mối thù nợ máu này. Ngày nay quần đảo Trường Sa vẫn còn nhắc cho nhau nghe những chiến công của cha anh và tự nhủ rằng vững chắc tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc Việt Nam




CHIẾN DỊCH CQ - 88 NHỮNG NGÀY NÀY CÁCH ĐÂY 28 NĂM -

Liệu dưới đường ồn ào xe cộ, tấp nập người đi kia, có bao người biết đến vùng biển ấy, ngày tháng ấy, sự kiện ấy và nhớ đến 64 người chết trẻ, linh thiêng, hầu hết vẫn đang vùi xác trong lòng biển Gạc Ma - Cô Lin, ngoài vùng biển Trường Sa?..

"... Anh yêu biển mà đứng trên bờ 
Anh yêu nước mà không biết bơi 
Làm sao anh hiểu?
Có những người lính đảo
Trần lưng trước mưa đạn quân thù
Chỉ được xáp lá cà bằng lê”
Nhưng với khoảng cách này là không thể
Đành chỉ được chết vì đảo
Đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm..."

- Những câu thơ thật đến tận cùng trần trụi và đau đến tột cùng tuyệt vòng, viết về những người lính Trường Sa, ngã xuống trong ngày 14/3/1988, trong khi giữ đảo, của Nhà thơ Thanh Thảo.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

Sau trận Hải chiến Trường Sa tháng 3/1988, tình hình tại quần đảo Trường Sa vô cùng căng thẳng. Để tổ chức chiến đấu, phòng thủ, nhiều km công sự đã được đào. Trong ảnh là bộ đội đào công sự trên đảo Trường Sa lớn. 
( Trường Sa Lớn tháng 5/1988)

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

HẢI CHIẾN TRƯỜNG SA 1988 - "ĐÀNH CHỈ ĐƯỢC CHẾT VÌ ĐẢO. ĐÀNH CHO LÃNG QUÊN MẤY MƯƠI NĂM..."

"... Anh yêu biển mà đứng trên bờ/ Anh yêu nước mà không biết bơi/ Làm sao anh hiểu?/ Có những người lính đảo/ Trần lưng trước mưa đạn quân thù/ “Chỉ được xáp lá cà bằng lê”/ Nhưng với khoảng cách này là không thể/ Đành chỉ được chết vì đảo/ Đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm..." - Những câu thơ thật đến tận cùng trần trụi và đau đến tột cùng tuyệt vòng, viết về những người lính Trường Sa, ngã xuống trong ngày 14/3/1988, trong khi giữ đảo, của Nhà thơ Thanh Thảo.


Mình đọc xong, cứ rưng rưng: 28 năm đã trôi qua. Liệu dưới đường ồn ào xe cộ, tấp nập người đi kia, có bao người biết đến vùng biển ấy, ngày tháng ấy, sự kiện ấy và nhớ đến 64 người chết trẻ, linh thiêng, hầu hết vẫn đang vùi xác trong lòng biển Gạc Ma - Cô Lin, ngoài vùng biển Trường Sa?..




HẢI CHIẾN TRƯỜNG SA 1988 - KÌ 1: BẤT TỬ TRÊN ĐẢO GẠC MA

Trong ký ức của anh Lê Thanh Miễn và Lê Văn Dũng, thuộc nhóm chiến sĩ chiến đấu trên đảo Gạc Ma, trận chiến dường như mới xảy ra hôm qua. Tưởng như hai anh mới vừa chứng kiến cảnh đồng đội là Trần Văn Phương và Nguyễn Văn Lanh tay không giành giật lá cờ tổ quốc với lính hải quân Trung Quốc, được vũ trang tận răng.

Tàu HQ-604 do thuyền trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy được lệnh tiếp cận đảo Gạc Ma, khẩn trương chuyển vật liệu xây dựng lên đặt mốc chủ quyền ngay trong đêm 13. Sau khi đặt được mốc và cắm cờ tổ quốc, một nhóm chiến sĩ được giao nhiệm vụ canh gác trên đảo. Những người khác bốc vác vận chuyển vật liệu từ tàu vào đảo trên các xuồng nhỏ.

Thiếu úy Trần Văn Phương và chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh có nhiệm vụ giữ cờ.

Sáng ngày 14, Trung Quốc đưa 5 xuồng nhôm cùng vài chục lính thủy, dương AK lưỡi lê quây vòng tròn tiến lên đảo.

Những chiến sĩ trên đảo lùi dần về phía lá cờ, tạo thành ‘vòng tròn bất tử’. Anh Lê Thanh Miễn có mặt trong nhóm chiến sĩ đó. Anh chứng kiến thiếu úy Trần Văn Phương trúng đạn đầu tiên và gục xuống. Lá cờ được chuyển sang cho anh Nguyễn Văn Lanh. Hai lính Trung Quốc áp sát anh Lanh giành giật. Cán cờ bị văng mất, anh Lanh cuốn lá cờ vào ngực và đạp vào bụng hắn. Lính Trung Quốc đâm bằng lưỡi lê, báng súng vào anh Lanh nhưng anh vẫn kiên quyết giữ cờ.

Anh Lê Văn Dũng lúc đó vừa chở được một xuồng vật liệu vào, đang định bơi ra tàu thì gặp lúc lính Trung Quốc tấn công phải lui trở lại. Trong thời điểm anh Phương và anh Lanh giành giật lá cờ với lính Trung Quốc, anh Dũng và anh Miễn cũng đang chiến đấu với những lính Trung Quốc khác, chỉ cách chỗ thiếu úy Phương hy sinh vài mét.

Trong trận chiến không cân sức, như anh Dũng nói, giữa nhóm chiến sĩ mặc độc quần đùi áo may ô đánh giáp lá cà với hàng loạt lính mang súng AK lưỡi lê, ‘như trẻ con chơi vật nhau’.

Sau trận giáp lá cà, quân Trung Quốc rút lui về tàu rồi dập pháo vào đảo Gạc Ma và tàu HQ-604, thảm sát gần như toàn bộ các chiến sĩ trên đảo và tàu.

Anh Lê Thanh Miễn rưng rưng kể về người đồng đội Võ Văn Tứ (quê Trường Sơn, Lệ Ninh, Bình Trị Thiên). Anh Tứ bị mảnh pháo phạt đứt rời ngang đùi, mất chân phải. Máu ra nhiều. Sau khi pháo Trung Quốc ngừng, anh Miễn xé gấu quần đùi buộc ngang bắp chân anh Tứ rồi đưa anh nằm lên xuồng nhôm, cạnh xác thiếu úy Trần Văn Phương. Anh Phương bị lính Trung Quốc xả AK vào người và bị pháo phạt mất nửa mặt.

(Cần biết rằng Gạc Ma là một đảo chìm. Khi thủy triều xuồng nước đến đầu gối. Khi triều lên nước đến ngang bụng. Sau trận chiến, quân ta dùng những xuồng nhỏ để những người bị thương nặng nằm lên xuồng. Những người bị thương nhẹ và không bị thương cứ đứng dầm nước nhiều tiếng đồng hồ đến khi được cứu).

Trong lúc tàu HQ-604 và đảo Gạc Ma bị tấn công dữ dội thì bên đảo Len Đao và Cô Lin, tàu HQ-605 và HQ-505 cũng đồng thời bị bắn. Khi thấy tàu HQ-604 bị bắn chìm, thuyền trưởng tàu HQ-505 Vũ Huy Lễ cho tàu lùi ra lấy đà và ủi lên đảo Cô Lin. Khi tàu HQ-505 trườn lên được hai phần ba thân tàu lên đảo thì bốc cháy. Thủy thủ tàu vừa dập lửa vừa đưa xuồng đến cứu thủy thủ tàu HQ-604.

Anh Lê Văn Dũng. Hiện anh Dũng sống tại xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Cũng như nhiều người dân trong vùng, anh Dũng sống bằng nghề trồng cây cao su. Ảnh Hằng Nhom

Anh Miễn bơi đẩy chiếc xuồng có anh Tứ và xác anh Phương ở trên về đến tàu HQ-505 (lúc này đã bị cháy và hư hại một phần). Nhưng thành tàu quá cao (chừng 5 – 6 mét) có cầu thang lên. Anh cõng anh Tứ đằng sau, nhưng anh Tứ đã mất máu quá nhiều, sức yếu không thể ôm anh Miễn để anh leo lên. Anh Tứ chỉ một mực kêu khát nước và xin anh Miễn để anh lại, cho anh uống nước để anh chết.

“Tội hắn lắm (tiếng địa phương Quảng Bình). Tôi cũng chẳng biết làm thế nào, đành để hắn lại trên xuồng rồi leo lên tàu HQ-505 lấy nước. Vậy mà hắn khỏe hung, cứ nằm vậy. Từ lúc bị thương khoảng 10h sáng, đến 4h hôm sau, khi được đưa về đảo Sinh Tồn thì ra đi”, anh Miễn nghèn nghẹn.

Anh Lê Thanh Miễn, hiện anh sống tại xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình, Anh Miễn sống bằng nghề làm ruộng. Ảnh Hằng Nhom

Nhưng ngay khi hai tàu Việt Nam đã bị bắn chìm và cháy (tàu HQ-605 bị bắn bên phía đảo Len Đao, sáng hôm sau 15/7 chìm). Người thương vong quá nhiều, phía Trung Quốc vẫn cho 3 tàu chiến ngáng chặn, không cho tàu Việt Nam và tàu Hội Chữ Thập Đỏ vào ứng cứu. Chiến sĩ hải quân Việt Nam, người gắng gượng bơi được vào bãi đá Cô Lin, người bị thương nằm trên xuồng, thậm chí trên lưng đồng đội. Người ôm những mảnh tàu vỡ lênh đênh trên mặt biển nhiều tiếng liền.

Chỉ đến đêm 14, sang ngày 15, tàu Việt Nam mới tiếp cận được đảo Gạc Ma để đưa các chiến sĩ về đảo Sinh Tồn cứu chữa. Nhiều người sang ngày 15 mới được cứu. Anh Miễn kể vài ngày sau khi được đưa về, lưng và vai các chiến sĩ tróc từng mảng da vì cháy nắng và ngâm nước mặn quá lâu.

Nhiều chiến sĩ không đợi được đã vĩnh viễn ra đi, trong đó có anh Tứ.




HẢI CHIẾN TRƯỜNG SA 1988 - KÌ 3: NHÀ TÙ TRUNG QUỐC, SAU KHI DÙNG VŨ LỰC CHIẾM GẠC MA VÀ LEN ĐAO, GIẾT HẠI 64 CHIẾN SĨ HẢI QUÂN, CHÚNG BẮT 9 CHIẾN SĨ CÒN SỐNG LÀM TÙ BINH...

Tàu đi 3 ngày đêm đến đảo Hải Nam, Trung Quốc. Cả nhóm bị bịt mắt đưa đến một nơi khác. Hơn một ngày đêm sau các anh được biết mình đang ở bệnh viện. Tất cả được đưa vào thay quần áo và cân rồi lên bàn mổ.

Sau cuộc thảm sát sáng 14/3. Lính Trung Quốc quay về tàu, và vẫn án ngữ vùng biển đảo Gạc Ma, khi ấy tàu HQ-604 đã chìm. Tàu HQ-505 cũng sắp chìm. Bên phía đảo Len Đao, tàu HQ-605 bị bắn nhưng vẫn cầm cự được đến sáng hôm sau. Các chiến sĩ Việt Nam, người tử thương, người trôi nổi trên biển.

Chiều 14/3, phía Trung Quốc cho xuồng quay lại và vớt được 9 chiến sĩ Việt Nam, trong đó có ba nhân vật Quảng Bình.

Anh Hải và Đông bị buộc dây kéo ngược lên tàu. Anh Thống bị đưa lên xuồng. Khi lên boong tàu lớn, các anh gặp 6 chiến sĩ khác. Các anh bị trói hai người một vào nhau. Anh Đông và Thống bị trói chung. Một người lẻ còn lại bị cột vào cọc sắt.

Cả 9 người lăn lóc trên cabin liên tục mấy ngày đêm, không ăn uống. Các anh liên tục kêu khát nước và xin nước, nhưng lính Trung Quốc ra hiệu không được uống. Người phiên dịch cũng giải thích các anh đang bị thương, uống nước vào có thể khiến chảy máu nhiều hơn nguy hiểm tính mạng.

Anh Thống từ khi bị đưa lên tàu Trung Quốc gần như đã không biết gì, sốt lúc nóng lúc lạnh. Anh Đông bị trói cùng thấy chân tay anh Thống đã hoại tử, bốc mùi khó chịu đã khẩn khoản xin cứu giúp. Anh Thống sau đó được đưa vào phòng khác và gần như mê man suốt dọc đường.

Tàu đi 3 ngày đêm đến đảo Hải Nam, Trung Quốc. Cả nhóm bị bịt mắt đưa đến một nơi khác. Hơn một ngày đêm sau các anh được biết mình đang ở bệnh viện.

Anh Hải và anh Đông kể các anh đều được đưa vào phòng, trói chân tay vào thành bàn. Thêm những người lính Trung Quốc khác đè đầu hoặc ngồi lên người giữ chặt để bác sĩ rạch vào gắp những mảnh pháo, đầu đạn ra, hoàn toàn không gây mê hay tê.

9 chiến sĩ khi được Trung Quốc trao trả hàng trên: Lê Văn Đông, Nguyễn Văn Thống, Trần Thiện Phụng, Phạm Văn Nhân, Nguyễn Tiến Hùng; hàng dưới: Trương Văn Hiền, Lê Minh Thoa, Mai Văn Hải, Dương Văn Dũng cùng vợ anh Trần Thiện Phụng và cán bộ dân phòng.

“Lúc đó tôi đã cố gắng nhịn thở để mong chết luôn, vậy mà không chết. Tôi cũng không hiểu sao mình khỏe thế. Gần 5 ngày đêm không ăn uống gì rồi lên bàn mổ, mất máu mà vẫn sống“. Anh Hải kể.

Anh Đông và nhiều anh khác cũng bị tương tự anh Hải. Anh Đông sau này còn mang được mấy mảnh đạn gắp trong người ra mang về Việt Nam làm ‘kỷ niệm’. Ở viện vài ngày, các anh được chuyển về trạm thu dung tại bán đảo Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc.

Anh Thống khi được tách ra nằm trong một phòng riêng trên tàu mê man. Khi đến Hải Nam một cô gái cho anh ăn miếng dưa và anh tỉnh lại rồi được đưa thẳng vào viện.

“Tôi được thay quần áo, uống một chút nước rồi tiêm một mũi gì đó rồi thiếp đi luôn. Khi tỉnh lại tôi thấy quanh giường mình cả chục bác sĩ. Người phiên dịch nói tôi đã ngất đi 10 tiếng đồng hồ, ai cũng nghĩ tôi đã chết. Anh ta nói bác sĩ bảo có thể phải cắt bỏ chân tay và bỏ một bên mắt tôi vì đã bị nhiễm trùng nặng, nếu không tính mạng tôi khó giữ được. Tôi một mực hoặc cứu chân tay tôi, hoặc để tôi chết. Tôi không muốn trở thành tàn phế. Các bác sĩ hội chẩn rồi quyết định để chân tay cho tôi. Sau hai tháng nằm viện, tôi xin về trạm thu dung điều trị tiếp để được ở cùng những đồng đội Việt Nam“.

Tại trạm thu dung, trong hơn một năm đầu tiên, 9 chiến sĩ bị giam biệt lập. Mỗi ngày được hai tô mì. Khoảng 1 năm rưỡi sau, một đoàn công tác của Hội Chữ thập đỏ thế giới đến thăm. Các anh được viết thư về thăm nhà và được gặp nhau hàng ngày, bữa ăn được cải thiện hơn.

Trong khi đó, ở quê hương các anh, cả 74 chiến sĩ đều được báo tin đã hy sinh và mất tích. Tin báo tử của anh Đông về đến nhà khi chị Thương đang mang thai được hai tháng, một thời gian sau khi anh đi. Chị Thương choáng váng, ốm liệt giường.

Một năm rưỡi sau, gia đình anh Đông, Thống, Hải nhận được thư từ Trung Quốc. Bao gia đình mang khấp khởi hy vọng con em mình có trong số đó. Họ đến nhà chia sẻ mừng vui với chị Thương, nhưng năm 1991, chỉ có 9 gia đình được đón người thân trở về. Trung Quốc trao trả 9 tù binh cho Việt Nam qua đường cửa khẩu Bằng Tường, từ đó các anh được đưa về quê.







HẢI CHIẾN TRƯỜNG SA 1988 - KÌ 4 (HẾT): GIÀNH LẠI LEN ĐAO....

Một tháng sau, bộ đội Việt Nam đi trên tàu chiến hải quân, được trang bị súng 12ly7, DKZ… quyết giành lại Len Đao và Gạc Ma

Trở lại với sự biến ngày 14/3/1988. Trước đó, ngày 11/3, nhiều chiến sĩ Trung đoàn E83 được lệnh khẩn lên tàu. Trung đội trưởng Đinh Xuân Toại (Đơn vị C7 – D3 – E83) lẽ ra cũng lên tàu HQ-604, nhưng đến giờ cuối, anh cùng một số chiến sĩ khác được điều chuyển sang tàu không số nhỏ hơn, chuyển hướng đến đảo Tốc Tan.

Khi đang xây dựng mốc chủ quyền và nhà trên đảo này, các anh nghe tin đồng đội bên Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao bị tấn công. Cả ngày đó, cùng với lực lượng từ đảo Sinh Tồn và cụm đảo xung quanh đó, các anh đã cố gắng tiếp cận Gạc Ma tiếp cứu đồng đội, nhưng bị tàu Trung Quốc ngăn chặn nên không thể vào được.

Ngày hôm sau, khi đã đưa được những chiến sĩ thương vong về Sinh Tồn, đơn vị anh Toại được đưa về đất liền, chuẩn bị lực lượng chiến đấu.

Một tháng sau, các anh đi trên tàu chiến hải quân, được trang bị súng 12ly7, DKZ… quay lại quyết giành lại Len Đao và Gạc Ma.

“Chúng tôi có 35 lính công binh và 7 thủy binh, được Tư lệnh Vùng 4 Hải quân trực tiếp chỉ huy, ra đi với quyết tâm giành lại đảo. Trước khi đi, chúng tôi đã được chuẩn bị tư tưởng có thể xảy ra chiến sự, lực lượng của ta mỏng, trong khi Trung Quốc tàu lớn, quân đông, và họ cũng quyết liệt giành giật đảo của ta. Nhưng chúng tôi vẫn đi, quyết tử”. Anh Toại kể lại.

Từ 2h sáng, các anh bí mật cho xuồng nhỏ vào thăm dò, rồi cho người tiếp cận Len Đao và Gạc Ma. Tuy nhiên chỉ có thể cắm cờ lên đảo Len Đao, tại Gạc Ma, phía Trung Quốc đã xây nhà cấp tốc và giăng lưới điện xung quanh đảo. Các chiến sĩ không tiếp cận được.

Buổi sáng ra, tình huống trước lặp lại: Trung Quốc cho tàu áp sát uy hiếp, lần này nhiều hơn: 7 tàu chiến Trung Quốc và vô số xuồng nhỏ vây quanh uy hiếp. Hải quân Việt Nam vẫn kiên quyết bám đảo dù lực lượng của Việt Nam ít hơn rất nhiều. Hai bên liên tiếp gọi loa sang nhau khẳng định chủ quyền.

“Lúc đó không khí căng như dây đàn, cả hai bên cùng chĩa súng vào nhau, sẵn sàng nhả đạn. Chỉ huy hai bên gọi loa sang nhau nói rất nhiều bằng tiếng Trung Quốc, tôi không hiểu lắm. Nhưng sau được nghe lại là phía Trung Quốc nói đây là đảo thuộc chủ quyền của họ, yêu cầu Việt Nam tránh xa. Phía mình cũng nói lại đây là chủ quyền của nước Việt Nam và chúng tôi đang thực hiện của chủ quyền của Việt Nam. Hai bên cứ trao đổi một hồi, chúng tôi sẵn sàng chiến đấu. Được một hồi, 7 máy bay chiến đấu của Việt Nam bay từ đất liền ra quần đảo, phía tàu Trung Quốc tản ra và chúng tôi được yên ổn làm việc. Rất may hôm đó không xảy ra xung đột, không bên nào nổ súng”, anh Toại cho biết.

Trước đó, các anh đã được huấn luyện xây nhà cấp tốc trong đất liền. Một ngôi nhà kiên cố trung bình phải xây trong vài tháng, các anh được huấn luyện xây hoàn thiện trong hai tháng. Nhưng khi làm tại Len Đao, các anh phải làm nhanh hơn nữa, chỉ trong mười mấy ngày đã xây xong ngôi nhà tại đảo.

Sau khi xây xong nhà tại Len Đao, nhóm anh Toại tiếp tục di chuyển xây nhà tại đảo Đá Nam rồi gặp bão. Tàu của các anh bị xô dạt, chìm nổi trong bão 25 ngày mới quay lại được đất liền. Toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trên tàu được Ban chỉ huy Vùng 4 Hải quân khen thưởng.

Từ 1988 đến nay, Trung Quốc chiếm giữ Gạc Ma. Việt Nam bảo vệ thành công Cô Lin và Len Đao.

" Chừng nào bọn chúng còn đó thì chúng sẽ tấn công ta như chúng vừa làm gần đây vào đầu năm 1979. Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc thì các tỉnh Bắc Trung bộ: Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành căn cứ cho cả nước. Đó là những căn cứ vững chắc nhất, tốt nhất và mạnh nhất không gì so sánh được. "
Lời căn dặn của Cố Tổng bí thư Lê Duẩn.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


Hai nữ chiến sĩ quân ta dẫn giải tên tù binh Trung Quốc về hậu cứ ( chiến tranh biên giới năm 1979)
Nguồn: Kí ức chiến tranh Việt Nam

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


Trong chiến tranh biên giới năm 1979,Liên Xô – quốc gia đồng minh lớn nhất lúc đó của Việt Nam đã thực thi nhiều biện pháp tương trợ. Bên cạnh việc cung cấp thông tin tình báo và trinh sát kỹ thuật, Liên Xô lập ra một cầu hàng không lớn góp phần cơ động các đơn vị Việt Nam tại mặt trận Campuchia ra miền Bắc. Moscow còn viện trợ khẩn cấp một khối lượng lớn vũ khí và trang thiết bị bảo đảm qua đường biển, trong đó có 400 xe tăng và thiết giáp, 500 khẩu pháo cối và cao xạ, 50 tổ hợp pháo phản lực BM-21, 400 tổ hợp tên lửa vác vai, 800 súng chống tăng và 20 máy bay chiến đấu.

Ngoài ra, nhiều đơn vị chính quy của Liên Xô tại biên giới Xô-Trung được lệnh báo động và tiến hành tập trận quy mô lớn để tạo áp lực, Hạm đội Thái Bình Dương cũng cho một biên đội tàu chiến đấu xuống tuần tiễu khu vực Biển Đông…

Ngày 5-3, Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố Lệnh tổng động viên toàn quốc “để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của bọn bành trướng và bá quyền Trung Quốc”. 
Cũng trong ngày ngày 5-3 đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố “hoàn thành mục tiêu” và rút quân khi mà các đơn vị thiện chiến của QĐND Việt Nam đang chuyển dần từ chiến trường biên giới Tây Nam ra Bắc để chi viện.

Theo công bố chính thức của Việt Nam, trong tuần đầu tiên của chiến tranh, lực lượng vũ trang 6 tỉnh biên giới đã loại khỏi vòng chiến 16.000 quân Trung Quốc, con số này tiếp tục tăng lên 27.000 vào ngày 28-2 và 45.000 vào ngày 5-3- ngày Bắc Kinh bắt đầu rút quân.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


Khi Trung Quốc đề nghị viện trợ 500 chiếc xe vào Trường Sơn với điều kiện kèm lái xe của họ, Lê Duẩn không đồng ý nhận bất cứ một chiếc xe nào vì tin rằng Trung Quốc lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ. Có người trong Bộ Chính trị đề nghị "sao không nhận một vài chiếc cho người ta vui?", nhưng ông trả lời:

“ Chừng nào tôi còn ngồi đây, thì tôi không cho một kẻ nào nghĩ trong đầu rằng có thể cướp được đất nước Việt Nam này"
Có nhiều câu chuyện trong các hồi kí cho thấy Tổng bí thư Lê Duẩn "cứng" trong ngoại giao như thế nào...qua đó hi vọng cho mem hiểu hơn về mối quan hệ mật thiết giữa ngoại giao - quân sự


 có lần khi sang tq Lê Duẩn đã bị nó hỏi các đời trước Việt Nam đã đánh tq nhiều lần đúng k? ô đáp là đúng.vậy sau này các ô có đánh tq nữa k? ô đáp" vẫn đánh,nếu cần"

Việc bác Lê Duẩn cứng rắn cảnh giác với TQ đc thừa nhận ở cả những ng sau này chạy ra nc ngoài. Vd nữa là những lãnh đạo thân TQ thì ko đc mời họp bàn về quyết sách quân sự. Lãnh đạo Đảng và NN ta cũng rất trăn trở tìm cách phát triển kinh tế, tiếc là mô hình, tư duy ... cùng nhiều yếu tố khác nên ko thành công thời đó.



Sau khi đánh bại đế quốc Mỹ, chúng ta vẫn giữ một đạo quân hơn một triệu người. Một số lãnh đạo Liên Xô đã hỏi ta: “Các đồng chí còn định đánh nhau với ai nữa mà lại vẫn duy trì một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi đáp: “Sau này các đồng chí sẽ hiểu.” Lý do duy nhất khiến chúng ta giữ một đạo quân thường trực như vậy chính là vì Trung Quốc mối đe dọa của họ đối với Việt Nam. Nếu như không có sự đe dọa đó thì đội quân thường trực lớn này sẽ không còn cần thiết nữa. Đã bị tấn công gần đây trên cả hai mặt trận, chúng ta có thể thấy rõ rằng sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta không duy trì một đội quân lớn.

Từ cuối Đại chiến thế giới thứ hai, tất cả đều cho rằng đế quốc Mỹ chính là tên sen đầm quốc tế. Chúng có thể xâm chiếm và đe dọa các nước khác trên thế giới. Mọi người, kể cả các cường quốc, đều sợ Mỹ. Duy chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ mà thôi.

Tôi hiểu được điều này nhờ cuộc đời hoạt động của mình đã dạy tôi như vậy. Người đầu tiên sợ Mỹ chính là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, cả Việt Nam và Lào, rằng: “Các anh phải lập tức chuyển giao ngay hai tỉnh giải phóng của Lào cho chính quyền Viên Chăn. Nếu không thì Mỹ sẽ lấy cớ để tấn công. Thế thì hết sức nguy hiểm.”
Về phía Việt Nam, chúng ta nói: “Chúng tôi sẽ đánh Mỹ để giải phóng miền Nam.” Ông ta [Mao] nói: “Các anh không được làm như vậy. Miền Nam Việt Nam cần phải trường kỳ mai phục, có thể một đời người, năm đến mười đời, thậm chí hai mươi đời nữa. Các anh không thể đánh Mỹ. Đánh nhau với Mỹ là một việc nguy hiểm.” Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến như vậy…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiến lên và chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam sẽ không được giải phóng. Một nước chưa được giải phóng thì vẫn cứ là một nước phụ thuộc. Không có nước nào được độc lập nếu chỉ có một nửa nước được tự do. Đó là tình hình cho đến năm 1975, khi đất nước ta cuối cùng đã giành được hoàn toàn độc lập. Có độc lập thì sẽ có tự do. Tự do phải là thứ tự do cho cả nước Việt Nam…
Nguồn: Thư viện QĐND Việt Nam...trích từ bút kí Cố Tổng bí thư Lê Duẩn.
Ảnh: Bác Hồ - Bác Duẩn

Nhân dân Cam-pu-chia gọi quân tình nguyện Việt Nam là "Bộ đội nhà Phật"

QDND: Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã hai lần làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia, cùng nhân dân và quân đội nước bạn chiến đấu chống kẻ thù chung thực dân đế quốc. Lần thứ ba quân đội Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Cam-pu-chia trong bối cảnh hoàn toàn khác. Lần này, theo Trung tướng LÊ HAI, Việt Nam đã làm được ba việc lớn:

1- Sau mùa Xuân toàn thắng của dân tộc ta năm 1975, tập đoàn Pol Pot vốn là đồng minh chiến lược của ta trong chống Mỹ, sau khi nắm quyền ở Cam-pu-chia, đã bất ngờ phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta, gây những tội ác dã man khủng khiếp với nhân dân ta.

Với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan, Pol Pot bên trong thì thi hành chính sách diệt chủng, thanh trừng nội bộ, giết hại hàng triệu người dân Cam-pu-chia, bên ngoài thì coi Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp. Pol Pot từng nói sẽ đánh Việt Nam lâu dài 10-15-20 năm và ngày 1-8-1978, tuyên bố trên đài phát thanh Phnom Penh: "Trong đời tôi, tôi hy vọng giải phóng Sài Gòn". Quân và dân ta buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hướng Tây Nam, đồng thời tìm mọi cách cứu vãn hòa bình, giữ gìn tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Tập đoàn Pol Pot cự tuyệt mọi đề nghị hòa bình của ta, ngày càng đẩy mạnh chiến tranh xâm lược.

Trước tình hình đó, ngày 23-12-1978, chấp hành chủ trương của Đảng và Nhà nước ta và đáp ứng yêu cầu khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, quân đội ta đã mở cuộc phản công chiến lược đập tan cuộc tiến công của Pol Pot hòng đánh chiếm thị xã Tây Ninh, tiếp đó phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Cam-pu-chia chuyển sang tiến công. Ngày 7-1-1979 giải phóng Thủ đô Phnom Penh và sau 25 ngày đã đánh tan 23 sư đoàn Pol Pot, giải phóng tất cả các thành phố, thị xã, thị trấn trên cả nước Cam-pu-chia, cứu nhân dân, cứu dân tộc Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Chính nhờ có sự giúp đỡ của nhân dân Cam-pu-chia mới có tốc độ tiến quân nhanh chóng đó.

Quân Pol Pot tan chạy về biên giới phía Tây và một số vùng rừng núi, dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, dần tập hợp lại lực lượng, tổ chức phản kích, khủng bố nhân dân rất tàn tạo. Nhà nước Cộng hòa nhân dân Cam-pu-chia thể theo nguyện vọng nhân dân, chính thức đề nghị Chính phủ ta để Quân tình nguyện ở lại giúp bạn một thời gian. Lúc này bạn chưa đủ sức giữ mà ta rút về thì Pol Pot sẽ nhanh chóng phản công lập lại ách thống trị của chúng; cuộc diệt chủng sẽ lại khốc liệt, hàng triệu người dân Cam-pu-chia sẽ ồ ạt lánh nạn sang Việt Nam. Pol Pot sẽ lại áp sát biên giới Việt Nam, tiếp tục cuộc chiến tranh tội ác chống Việt Nam, miền Nam sẽ không thể ổn định để xây dựng. Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã nghiêm túc chấp hành quyết định của Đảng và Nhà nước ta ở lại Cam-pu-chia một thời gian, giúp nhân dân Cam-pu-chia, thực hiện hồi sinh dân tộc, xây dựng lại đất nước, xây dựng lực lượng tự bảo vệ thành quả của nhân dân. Mười năm ở lại giúp Bạn, Quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế vẻ vang, thể hiện phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ trên đất Bạn.

Tờ Thời báo Canberra (Australia) ngày 19-3-1989 đã nhận định: "Ai cũng phải thừa nhận là việc Việt Nam vào Cam-pu-chia đã đem lại kết quả rõ ràng... Hành động đó đã được nhân dân Cam-pu-chia ở khắp nơi chào đón như là sự giải phóng cho họ. Và ai cũng thấy rõ ràng là sở dĩ từ trước đến nay Khmer đỏ không thể trở về được Phnom Penh chủ yếu là vì sự có mặt của Việt Nam...".

2- Để giúp nhân dân Cam-pu-chia hồi sinh dân tộc, Quân tình nguyện Việt Nam đã làm chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác trên quy mô cả nước Cam-pu-chia trong một thời gian dài.

Trên toàn bộ đất nước Cam-pu-chia vừa được giải phóng, bộ đội Việt Nam, chuyên gia Việt Nam cùng bạn Cam-pu-chia đã giúp hàng chục vạn, hàng triệu dân tiều tụy đói khát, trở về quê cũ, khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường học, chùa chiền. Nhân dân Cam-pu-chia đã dấy lên một cao trào quần chúng hồi sinh từng người, từng gia đình, từng thôn ấp và hồi sinh toàn dân tộc.

Trên mọi miền đất nước Cam-pu-chia, Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã hòa mình, gắn bó với dân, cứu giúp dân, bảo vệ dân và cũng được nhân dân Cam-pu-chia yêu mến, tin cậy và giúp đỡ.

Nhân dân Cam-pu-chia gọi bộ đội Việt Nam là "Bộ đội nhà Phật" giúp nhân dân Cam-pu-chia anh em thực hiện một cuộc hồi sinh dân tộc vĩ đại sau những hậu quả khủng khiếp, những tàn phá đảo lộn mà chế độ Pol Potđã gây ra cho đất nước, xã hội, môi trường sống và con người.

3- Giúp bạn từ trong phong trào nhân dân mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân yêu nước, đủ sức tự bảo vệ mình.

Từ chỗ sợ Pol Pot, nhân dân Cam-pu-chia đã đứng dậy, dám đánh Pon Pot, dân quân tự vệ phát triển đều khắp. Từ 21 tiểu đoàn được xây dựng ban đầu, với sự giúp đỡ của ta, trên cơ sở phong trào quần chúng mạnh mẽ, Bạn đã nhanh chóng xây dựng được lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, hệ thống cơ quan chỉ huy lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở. Lực lượng Bạn từng bước trưởng thành, từng bước tự đảm đương nhiệm vụ, Quân tình nguyện hằng năm rút một bộ phận về nước. Năm 1989, lực lượng vũ trang yêu nước Cam-pu-chia đã tự đảm đương toàn bộ nhiệm vụ bảo vệ đất nước, Quân tình nguyện Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ, đến ngày 29-6-1989, những đơn vị cuối cùng đã rút về nước.

Ở Thủ đô Phnom Penh và nhiều nơi khác, Nhà nước và nhân dân Cam-pu-chia đã tổ chức những lễ tiễn Quân tình nguyện Việt Nam hết sức trọng thể và thắm tình đoàn kết Việt Nam- Cam-pu-chia.

Ngày Quân tình nguyện về nước, báo Pro-chia-chuôn (Nhân dân) của Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia ra xã luận viết: "Trong những năm cực kỳ bi thảm dưới chế độ diệt chủng Pol Pot, trên thế giới này không biết bao nhiêu kẻ mạnh, kẻ giàu, nhưng duy nhất chỉ có người bạn láng giềng nghèo Việt Nam đến cứu sống dân tộc ta mà thôi".

Hơn 20 năm sau, trong cuộc Hội thảo quốc tế "Việt Nam trong thế kỷ XX" ngày 20-9-2000 tại Hà Nội, Tiến sĩ Chay-y-Hiêng, Cố vấn Chính phủ Hoàng gia Cam-pu-chia, đọc tham luận đã khẳng định: "Điều gì còn đọng lại trong trái tim người dân Cam-pu-chia về Việt Nam trong thế kỷ XX? Đó là lòng biết ơn, đó là tình hữu nghị, là hình ảnh về một đội quân nhà Phật từ cõi thiện xa xôi đến cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia".

Đảng ta đã đánh giá: "Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam rút về nước với tư thế hoàn thành nhiệm vụ, sáng ngời chính nghĩa, lực lượng yêu nước và tiến bộ Cam-pu-chia tự mình đứng vững trước sự tiến công của các thế lực thù địch. Hai nhân tố ấy là biểu hiện nổi bật của thắng lợi cực kỳ quan trọng của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở hướng Tây Nam và mười năm giúp Bạn".

Thực tiễn chỉ rằng, nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng ta, là tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại mà câu nói nổi tiếng của Người là "giúp nhân dân nước Bạn là mình tự giúp mình", là lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế trong sáng đã trở thành động lực chính trị, tinh thần vô cùng mạnh mẽ của Quân tình nguyện và nhân dân ta.

Tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống Việt Nam- Cam-pu-chia, Việt Nam-Lào, được xây dựng qua những năm tháng đấu tranh gian khổ vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân mỗi nước trong thế kỷ XX là tài sản vô giá của nhân dân ta và nhân dân hai nước Lào và Cam-pu-chia anh em. Tình đoàn kết hữu nghị đó sẽ được giữ gìn, bảo vệ và phát triển mãi mãi.--------------------------------

 ta đánh sang đất Thái:
Sau khi đám tàn quân Pôn Pốt bị chủ lực QĐND Việt Nam đánh bại buộc phải rút lui, ẩn náu dọc biên giới Thái Lan,xây dựng các căn cứ dưới vỏ bọc là các trại tị nạn hòng đợi các nước hậu thuận bơm tiền nuôi sống.Lúc này,Mỹ dựa vào cái gọi là "Tổ chức cứu trợ khẩn cấp Cambodia" , dựa vào đại sứ quán Mỹ tại Bangkok, đã nuôi dưỡng và hỗ trợ Pôn Pốt để tiếp tục chống lại chính phủ mới của Campuchia do Việt Nam hậu thuẫn. Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực thế giới đã cung cấp lương thực cho 20.000 đến 40.000 lính Pôn Pốt,Thái Lan lúc này cũng hỗ trợ đám tàn quân này với hi vọng có thể ngăn cản mối đe dọa từ quân đội Việt Nam, Mỹ & Trung cũng hứa hẹn sẽ gia tăng các hoạt động cung cấp vũ khí,lương thực . Suốt một thập kỷ sau đó, cơ quan tình báo quân đội Mỹ đã giúp Pôn Pốt do thám qua vệ tinh, đồng thời các lực lượng đặc nhiệm của Mỹ và Anh hướng dẫn quân chúng đặt hàng triệu quả mìn bộ binh khắp miền Tây Campuchia.
Nhờ có sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các căn cứ do Thái Lan cung cấp, từ tình trạng chỉ còn là những nhóm du kích hồi cuối năm 1979, đến cuối năm 1980 lực lượng Khmer Đỏ đã hồi phục sức mạnh, với quân số tăng lên khoảng 20.000 tới 40.000. Đến cuối năm 1981, chiến tranh du kích của chúng thực hiện tại Campuchia đã lan rộng mạnh mẽ tại những khu vực rộng lớn.
Từ năm 1979 đến giữa năm 1985, quân đội Việt Nam thực hiện các chiến dịch quân sự truy quét đánh phá các căn cứ của Pôn Pốt . Tháng 1 năm 1980, chiến dịch quân sự nhằm vào Pôn Pốt tại Phnom Chhat bắt đầu.Chiến dịch phản công,tái chiếm của chúng được cả Mỹ-Trung-Thái ủng hộ mạnh mẽ nhưng đều bị quân đội Việt Nam đánh dập ngay sau đó. Các cuộc đụng độ với quân Việt Nam cũng diễn ra và lan sang cả lãnh thổ Thái Lan. Từng có lúc quân đội Việt Nam kiểm soát nhiều ngôi làng của Thái Lan, lấy đó làm bàn đạp tấn công tận gốc rễ tàn quân Pôn Pốt, Thái Lan phản ứng khá yếu ớt,thiên về phòng thủ,một vành đai bảo vệ thủ đô BăngKôk hình thành. Giao tranh giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với Quân đội hoàng gia Thái Lan diễn ra từ năm 1982-1988 nhưng Thái Lan tỏ ra vô cùng yếu thế,thiếu kinh nghiệm chiến đấu.Phóng viên nước ngoài từng mô tả việc quân đội Việt Nam quét sạch lực lượng phòng biên Thái Lan trên đường truy kích Pôn Pốt, lực lượng Việt Nam kéo pháo lên các cao điểm, áp sát biên giới Thái Lan và đấu pháo trực tiếp với họ...

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.
Pousat, giải phóng 3/7 quân khu của Pol Pot ở vùng Đông, Tây Bắc và Tây Campuchia (chiếm phần lớn diện tích Campuchia). Trung bình mỗi ngày, cả quân đoàn đi được 100km, đi đến đâu, đánh địch đến đó rồi lại tiếp tục hành quân.
Những ngày cuối cùng của chiến dịch, tướng Nguyễn Quốc Thước đã chỉ huy Quân đoàn hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng ở chiến trường Campuchia: tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của Pol Pot, thu giữ 8 tấn vàng và bàn giao lại toàn bộ cho Campuchia làm tiền đề bắt đầu xây dựng lại đất nước. Sau chiến dịch cuối cùng này, Quân đoàn 3 trở về Việt Nam, tiếp tục tham gia Chiến tranh Biên giới phía Bắc.






Sau năm 1975 ,ít ai ngờ rằng quân đội ta còn phải tham chiến trên các chiến trường cho đến cuối những năm 80 mới tạm yên ổn. Đó là cuộc chiến biên giới phía Bắc bùng nổ năm 1979 - kéo theo các xung đột hàng chục năm sau đó cả trên đất liền lẫn trên biển , cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia đến năm 1989 mới bắt đầu rút quân,cuộc chiến chống thổ phỉ xâm nhập trên toàn bộ các tuyến biên giới ...Đó là chưa nói đến trước năm 1975 ,nước ta bị chiến tranh tàn phá ác liệt như thế nào...
Thực sự thì cho đến năm 1995, khi lệnh bao vây,cấm vận được tháo bỏ thì nước ta mới bắt đầu hội nhập sâu rộng và cho đến nay - Việt Nam chỉ có hơn 20 năm yên ổn để xây dựng ,phát triển kinh tế,dù còn nhiều hạn chế nhưng không thể phủ nhận những thành tựu đã đạt được...
Vậy nên,đừng so sánh vì sao nước ta chưa bằng nước này,không bằng nước kia mà hãy nhìn vào xuất phát điểm của nước ta ở đâu mà phấn đấu để xây dựng.

Ảnh: Quân ta rút quân khỏi Campuchia

"....5h sáng ngày 17/2/1979, lúc mọi người đang chuẩn bị tập thể dục, thì bất ngờ phía bên kia biên giới, cách chỗ lán trại có vài km, tiếng pháo bắt đầu nổ ùng oàng, ánh chớp sáng rực góc trời, liên tiếp những quả đạn vượt qua pháo đài rơi xuống thị trấn Đồng Đăng.
Không ai bảo ai, mọi người đồng thanh hô to: “Tàu đánh rồi”..."Tàu đánh ta rồi mọi người ơi..." Tất cả chạy qua kho quân khí, mỗi người cầm 1 khẩu súng và tức khắc chạy lên các chốt phòng thủ. Sẵn sàng chiến đấu...
Sau màn rót pháo, chỉ trong phút chốc, quân Trung Quốc rầm rộ tiến vào Đồng Đăng.
Đi đầu là xe tăng, bò lên bắn vào các cao điểm, phía sau là quân Trung Quốc tiến lên đủ chủng loại, kẻ chạy bộ, kẻ đi ngựa, kẻ ngồi trên xe quân sự tiến lên. Một phát đạn B40 phóng xuống đám lính đầu tiên tiến gần đến pháo đài, cả tiểu đội Tàu tan xác. Những tên gần đó tóc tai cháy xém, mặt mũi lộ vẻ kinh hoảng, ngần ngừ không dám tiến. Ngay tức khắc, chúng bị những tên đi sau bắn chết, rồi cả biển người lầm lũi tiến lên, bất chấp súng đạn.
B40, ĐKZ, AK bắn toét cả nòng súng cũng không xuể trước chiến thuật biển người của quân Trung Quốc, đồng đội phải rút dần vào pháo đài cố thủ.

Đến trưa 17/2, các chốt cố thủ của Đại đội 42 từ con đường quanh đồi thông dẫn đến pháo đài cũng lần lượt bị mất....(.....)..... 
Trong pháo đài lúc đó có khoảng 700 con người, bao gồm Đại đội 42, một đơn vị cảnh sát dã chiến Đồng Đăng, công an vũ trang, cùng một số người dân chạy loạn cùng tham gia chiến đấu.Lương thực dự trữ chỉ có chút ít, nhưng quân Trung Quốc tiến vào đã phá sạch, cướp sạch.
Một đồng đội kể lại , ông chứng kiến phía sau đám lính là một đội dân binh rất đông di chuyển theo để hỗ trợ. Chúng là đội quân ô hợp hôi của. Chúng vào nhà dân bắt gà, bắt lợn chọc tiết, xuống cả ao bắt cá... Đám quân ô hợp ấy đặt bộc phá giật đổ nhà cửa dân cư.

Trên đường tìm về pháo đài, người đồng đội ấy đã tiêu diệt thêm mấy tên lính Trung Quốc. Khi chạy qua đám xác chết, ông còn gặp một tên chết trong tư thế hai tay còn ôm chặt bao khoai lang ,phía trước là xác lính Trung Quốc nhiều đến nỗi tắc cả con suối..." - Cựu binh Nguyễn Văn Thực kể lại...

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.




Sau sự kiện 30/4/1975 , Tướng Phạm Xuân Ẩn được tổ chức tiếp tục cử sang Mỹ hoạt động tình báo dưới vỏ bọc là người tham mưu, thân tín của chế độ VNCH và chính quyền Mỹ nhưng ông xin nghỉ vì đã hoàn thành nhiệm vụ - nguyện vọng đó được tổ chức chấp nhận.
Nếu Tướng Ẩn mà tiếp tục qua Mỹ làm tình báo thì dự là mấy kế hoạch chống phá sau năm 1975 của Mỹ và tàn dư VNCH còn ăn hành dài.
Ảnh: Điệp viên Phạm Xuân Ẩn thời trai trẻ.







heo mình biết thì CIA của Mỹ đã cố gắng lôi kéo tướng Ẩn về phía mình, tướng Ẩn đã không biết nên lựa chọn ntn giữa nên và ko nên, nếu đồng ý thì sẽ có cơ hội đột nhập CIA để nắm rõ tình hình chiến sự ở VN hơn. Và ông đã gửi thư về HN để hỏi ý kiến tổ chức nhưng ko đc chấp nhận vì việc này quá mạo hiểm đến tính mạng, tốt nhất tướng Ẩn vẫn nên dùng vỏ bọc là nhà báo để hoạt động cách mạng.





10h45 ngày 30/04/1975 xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập và bị kẹt tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 dưới quyền chỉ huy của Vũ Đăng Toàn húc tung cánh cửa chính của dinh.
Chế độ Nguỵ quyền Việt Nam Cộng Hoà chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa tính theo giờ phút! Cách mạng sắp đi tới hoàn toàn thắng lợi!





HÌNH ẢNH NHỮNG CHIẾN SỸ GIẢI PHÓNG QUÂN HI SINH CHỈ VÀI GIỜ THÔI LÀ ĐẤT NƯỚC ĐỘC LẬP 30/4/1975........Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm.





Đến ngày 22-23/4/1975 gần như các quân đoàn đã bố trí xong trận địa phong toả Sài Gòn. Gần 20 lữ đoàn pháo mặt đất, pháo cao xạ sẵn sàng nổ súng, 2 trung đoàn tên lửa SAM-2 cũng đã bố trí xong trận địa quanh Sài Gòn.

Thêm vào đấy, sân bay Tân Sơn Nhất chỉ còn có khả năng cho trực thăng cất cánh, vì đường băng hư hại nặng sau trận tập kích bằng A-37 của phi đội Quyết Thắng, các loại máy bay cánh bằng không thể di chuyển.


Đêm 29 rạng ngày 30, Mỹ tiến hành ch

iến dịch Cơn Lốc (Operation Frequent Wind) !!! Và chiến dịch đu càng lớn nhất lịch sử loài người diễn ra cho tới thời khắc lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc dinh Độc lập.

Suy nghĩ một chút, nếu ngày đấy Việt Nam quyết tâm đuổi cùng giết tận thì chả có cái máy bay nào cất cánh được khỏi Sài Gòn, cũng chả có chiến dịch "Cơn Lốc" đu càng kia.

Trong thời khắc thống nhất lịch sử của nước nhà, dân tộc đã cho các bạn VNCH một con đường sống, cho các bạn một con đường để quay đầu lại, quay về với lợi ích dân tộc. Nhưng không phải ai cũng đủ lương tri để thức tỉnh như Nguyễn Cao Kỳ, mà phần đông vẫn đang ngày ngày chống phá chính Đất nước mình, chính dân tộc đã cho mình con đường sống trong lúc hiểm nghèo nhất. Dân tộc này luôn dang tay chào đón những đứa con yêu dấu quay về, nhưng với những đứa con hư và ngu dốt thì không.
Nguồn: ‪#‎ComCom‬
‪#‎ND‬






Một chiếc Zippo với biểu tượng phản chiến và lời oán thán của lính Mỹ: "Chúng tôi bị dẫn dắt bởi một đám bất tài để giết những con người bất hạnh và phải chết mà chẳng ai nhớ tới"


n ranh giới vẫn chĩa súng về phía nhau.
Tuy nhiên, đến buổi chiều thì mọi chuyện hoàn toàn thay đổi. Một nhóm bộ đội giải phóng miền Bắc ra vẫy tay gọi í ới vào chốt của quân đội miền Nam ở bên kia ranh giới, mời mấy anh em qua bên này uống nước chè xanh.
“Tôi cứ ngỡ là chuyện đùa. Nhưng mấy phút sau một nhóm bốn năm người lính cộng hòa kéo dây ranh giới để qua chốt của quân giải phóng” - ông Thành kể chậm rãi.
Hai bên bắt tay, chia nhau chén nước chè xanh, hút chung điếu thuốc lá Điện Biên và cùng trò chuyện cười đùa. Những người lính phía miền Nam nói giọng miền Nam cũng mang sang một chai rượu nếp đen làm quà cho bộ đội miền Bắc.
Một anh lính thủy quân lục chiến thấy ông Chu Chí Thành cầm máy ảnh nên gọi: “Nhà báo ơi, chụp cho tôi với anh bộ đội giải phóng tấm hình kỷ niệm”.
Nói rồi, hai người lính đến khoác vai nhau tươi cười hồn nhiên. Bấm xong mấy bức hình, ông Thành đứng trân người đến mức quên mất chuyện hỏi tên tuổi của hai người lính.
(4/1973....Triệu Phong - Quảng Trị )



"..... Trong cuốn nhật ký của cha tôi có ghi lại vài dòng nhưng đủ để tôi nhớ và hình dung lại những gì diễn ra trong năm đó liên quan đến câu chuyện mà cha tôi kể lại. Ở đó, bản lĩnh người lãnh đạo tối cao của đất nước đã thể hiện bản lĩnh của một dân tộc... Và đủ để tôi cảm nhận sực khắc khoải, đau đớn về những gì trải qua trong cái năm đầy cam go, thử thách ấy và quyết tâm dữ dội của ông về hai chữ độc lập, tự do của dân tộc.



Trước khi Nixon có cuộc đàm đạo với lãnh đạo Trung Quốc, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai sang Việt Nam, gặp cha tôi ở Gia Lâm, Thủ tướng Chu Ân Lai nói với cha tôi ý là Trung Quốc và Nixon sẽ có cuộc bàn thảo về vấn đề Việt Nam.


Lúc đó ông đã lập tức nổi nóng: "Nước Việt Nam là của người Việt Nam, không ai có thể quyết định được vận mệnh dân tộc này thay chúng tôi. Nếu Mỹ muốn bàn về Việt Nam thì sang Việt Nam mà bàn với chúng tôi, tại sao lại bàn với các đồng chí và tại Trung Quốc? Đồng chí có biết, năm 1954, khi cảm nhận được rằng, Việt Nam đã bị ép ký hiệp định Genève, tôi đã khóc ròng trên đường từ miền Bắc quay trở lại miền Nam vì biết rõ rằng - rồi đây máu của đồng bào tôi sẽ đổ hàng chục năm trời? Và sau đó thì các đồng chí đã thấy đó, sau hai năm theo như thỏa thuận là "hòa bình sẽ được lập lại", máu của đồng bào tôi đã đổ cho tới bây giờ...".

Cha tôi kể rằng, trước sự nổi nóng của ông, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tỏ thái độ xin lỗi.

Sau khi gặp Nixon, Thủ tướng Chu Ân Lai có sang Việt Nam thông báo tình hình rồi sẽ thế này, thế khác. Sau khi nghe xong, cha tôi nói: "Tôi chỉ biết trước một điều là sau khi Nixon gặp các đồng chí, Mỹ sẽ đánh chúng tôi gấp 10 lần...".

Dự đoán đó đã đúng. Sau đó, Mỹ đã rải bom khắp các thành phố lớn và làng mạc miền Bắc...

Cha tôi đã không ngăn được điều này nhưng ông đã thể hiện bản lĩnh và ý chí của cả dân tộc lúc đó và tâm nguyện lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập, tự do".

Và khát vọng đó đã trở thành hiện thực vào ngày 30/4/1975.

Tôi rất tự hào về ông. Tổng Bí thư Lê Duẩn, người có vị trí quan trọng trong thế kỷ XX, thế kỷ nhiều đau thương và anh hùng của dân tộc Việt Nam, người đã thể hiện được bản lĩnh và khát vọng độc lập tự do của một dân tộc nhỏ bé mà kiên cường, bất khuất."


Theo TẠP CHÍ VĂN HIẾN VIỆT NAM
Kỉ niệm 109 năm ngày sinh Cố Tổng bí thư Lê Duẩn.



ên bầu trời Hà Nội vào đêm 27-12-1972.
“Giây phút tiêu diệt được B52 làm mình hạnh phúc và sung sướng đến tột cùng” 
Đêm 27-12-1972, chiếc MiG-21 của Phạm Tuân cất cánh lúc 22 giờ 16 phút từ sân bay dã chiến Yên Bái, theo chiến thuật “đi thấp kéo cao” nhằm tránh radar của máy bay địch. Sau khi dẫn đường mặt đất thông báo cách phi đội địch 8-9 km, Phạm Tuân tăng tốc để bay vọt qua 2 tốp máy bay F-4 hộ tống của chúng. Sau khi vọt qua đội F-4, ông tiếp cận 2 chiếc B52, khi còn cách khoảng 4 km, dẫn đường mặt đất ra lệnh bắn nhưng Phạm Tuân chờ thêm mấy giây để tiếp cận gần hơn rồi bấm nút phóng 2 quả tên lửa tầm nhiệt K-13 vào chiếc B52 ngay phía trước.
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


iền Bắc. Lúc này,vũ khí duy nhất mà anh còn chính lòng cảm tử, phi công Vũ Xuân Thiều đã lao thẳng chiếc máy bay Mig-21 vào B-52 của địch,một tiếng nổ vang trời Yên Châu - Sơn La.
Phi công Vũ Xuân Thiều có mối tình dang dở với một con gái tên Hoa, Bài thơ Hoa chép tặng Thiều ngày 19-9-1970, nguyên bài bằng tiếng Nga và một khổ thơ cuối Hoa tự dịch sang lời Việt:
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có dài lê thê
Thì anh ơi cứ đợi
Đợi em về nghe anh
....Và... mãi cho đến tháng 3-1973,khi đang học tập tại Liên Xô ,người con gái ấy mới biết tin anh chàng người yêu mình đã anh dũng hi sinh......
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

Ngày 21/2/1972 ,tổng thống Mỹ Nixon có chuyến thăm Trung Quốc.
Bắt đầu gian đoạn Trung Quốc dùng các chiêu trò phá hoại,tỏ rõ ý đồ không muốn Việt Nam thống nhất, còn Mỹ thì tự tin chuẩn bị các hoạt động đánh phá mà chắc chắn rằng Bắc Việt Nam đã bị cắt giảm đáng kể hàng viện trợ.
Rồi đến năm 1974, Mỹ - Trung lại đi đêm với nhau,Mỹ buông lỏng, khóa chân VNCH cho Trung Quốc nuốt trọn Hoàng Sa.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

Trích hồi kí Kim Jin Sun - cựu lính Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam: 
Mặc dù mới lập gia đình được 10 tháng, tôi đã phải tạm biệt vợ, quên đi hai chữ tình yêu để sang Việt Nam. Ở đó tôi đã lùng sục khắp các hang núi như một con thú, tìm mọi cách để tiêu diệt hoặc bắt toàn bộ đối phương. Đã có rất nhiều người bị chết bởi những kế hoạch của tôi.

Tại nơi chiến trường chỉ có giết và giết đó, các giá trị đạo đức đối với chúng tôi cũng bị tan vỡ chẳng khác nào những mảnh đạn pháo. Và dần dần tôi cũng trở thành một con người không biết gì khác ngoài bắn giết. Sự điên dại trên chiến trường là điều không thể tưởng tượng được bằng lý trí lúc bình thường.

Tôi không hề cảm thấy bận lòng khi thấy đứa trẻ chăn trâu hay một dân thường bị chết. Tôi đã truy lùng với một khoái cảm còn hơn cả cảm giác đi săn thú. Tôi đã ăn uống và chụp ảnh không hề vướng bận ngay bên cạnh những xác chết. Tôi đã xông vào hầm của đối phương không một phút chần chừ và bóp cò súng không hề run sợ. Chiến tranh đã qua lâu mà tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao mình lại có thể hành động như vậy. Tôi đã bắn giết mà không hề quan tâm và cũng không thể hiểu được bản chất của chiến tranh Viêt Nam . Tôi không được phép suy nghĩ gì khác ngoài việc phải giết thật nhiều Việt cộng để tồn tại và ngăn chặn làn sóng cộng sản.

Tôi đã chiến đấu liên tục với một chiếc mũ cao bồi trên đầu. Trong bộ não của tôi được nhồi đầy những ý nghĩ rằng miền Bắc là nơi những kẻ ác tụ tập. Sau khi kết thúc cuộc đời binh nghiệp với quân hàm cấp tướng, tôi đã có dịp sang thăm Hà nội. Cái đập vào mắt tôi lúc đó là một sân bay và con đường với bóng đèn. Tiếng súng đã tắt 20 năm rồi..., tại sao một Viêt Nam nhỏ bé như vậy lại có thể thắng được siêu cường số một là nước Mỹ. Tôi cũng muốn đi tìm lời giải cho những hành động của những người lính giải phóng mà tôi đã từng gặp và giao chiến. Những người sống và chiến đấu trong hoàn cảnh mà con người bình thường khó có thể sống nổi, những người lính giải phóng đã lao thẳng vào căn cứ địch, chỉ với trái lựu đạn; người chiến sĩ giải phóng đã chống cự gần 8 giờ đồng hồ với một thân hình gần như cụt cả tay chân, không chịu đầu hàng... lúc đó tôi đã viết vào nhật ký như sau:

“Thật đáng thương cho chiến dịch Tết Mậu Thân của Viêt Cộng . Chẳng hiểu vì cái gì mà họ lại lao vào đội quân hùng mạnh của Mỹ và Hàn quốc như vậy. Thật đáng thương. Không thể hiểu nổi những người lính Viêt Cộng gầy guộc như một đứa bé, trên tay chỉ có một khẩu súng cổ lỗ và một trái lựu đạn.... vì cái gì mà chiến đấu như vậy”.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

Tiếp tục với hồi kí Kim Jin Sun - cựu lính Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam:
Tôi đã từng tham gia trận đánh quy mô sư đoàn với tên gọi "Chiến dịch Mãnh hổ". Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi được tham gia một trận có quy mô lớn như vậy. Lúc đó để ngăn chặn việc báo cáo sai sự thật, sư đoàn ra lệnh mỗi khi tiêu diệt Việt Cộng phải cắt tai trái đem về. Có thể hiểu được một phần tại sao các viên chỉ huy lại ra một mệnh lệnh dã man như vậy. Điều đó cũng có nghĩa là đã có quá nhiều báo cáo sai sự thật.
Trước ngày toàn sư đoàn tham gia vào chiến dịch “Mãnh hổ”, tôi đã tập hợp toàn đơn vị lại sau khi đã hoàn thành việc chuẩn bị chiến đấu để huấn thị. Tôi cũng đã tổ chức liên hoan và khích lệ tinh thần binh sĩ. Tôi tràn đầy quyết tâm là sau trận đánh này quân Việt Cộng ở khu vự xung quanh sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt. Nhưng ngay từ ngày đầu của chiến dịch, tôi và chỉ huy sư đoàn đều hiểu rằng đó chỉ là giấc mơ viễn vông.
Tại điểm đổ quân, đối phương đã đặt rất nhiều mìn, chỉ cần vướng vào dây là mìn nổ.Có rất nhiều trường hợp trực thăng bay đến không đổ quân được phải bay về. Dường như quân giải phóng đã biết rất rõ về thời gian, hình thức tác chiến của quân Hàn quốc,có thể họ có tay trong . Thời gian pháo bắn dọn đường và trực thăng bay đến đổ quân thì quân Việt Cộng đã rút êm ra ngoài qua những con đường bí mật. Chỉ còn lại trong căn cứ trống rỗng của họ những dây mìn được gài lại như mạng nhện. Họ chỉ để lại một vài người trong tổ cảnh giới ở lại sâu trong rừng, những nơi không thể nào phát hiện ra được, và quân Hàn quốc đã thương vong bởi những quả mìn do họ gài lại.
Nhưng mệnh lệnh từ trên vẫn tiếp tục được đưa xuống và lùng sục vẫn được tiến hành. Đó đúng là một mệnh lệnh ngớ ngẩn. Rừng ở Việt Nam đầy rẫy những cây lớn nhỉ, ngay giữa ban ngày cũng tối như mực. Nếu tiến vào trong đó thì không nhìn thấy trời mà cũng không thể xác định được phương hướng. Binh lính phải mất tới 4 giờ để tiến lên một quãng 400m. Nếu phải tiến quân theo đường rừng dày đặc thì những cây nhỏ và dây leo theo đúng nguyên tắc thì chưa cần đến 1 giờ là sẽ bị xuống sức nghiêm trọng. Hơn nữa, khi leo núi, cứ tiến 10 m thì lại phải dừng lại nghỉ 20 phút. Trên lưng đeo 8 quả đạn cối nên nhiều lúc tôi cứ leo được 2m thì lại bị tụt xuống tới 3m.
Binh lính được đưa vào cuộc lùng sục bất đắc dĩ này, không còn cách nào khác là phải đi hàng một, theo những con đường có sẵn. Nhưng quân giải phóng đã gài lại đầy mìn trên con đường này trong khi rút lui. Một hôm trung đội đi đầu bị vướng mìn và thương vong 11 người. Điều này làm cho toàn đại đội phải dừng lại trong hẻm núi 1 giờ liền với đội hình kéo dài 4km. Nếu quân giải phóng tấn công bất ngờ thì chắc chắncó một thảm kịch xảy ra bất ngờ.
Hỡi những sĩ quan chỉ biết ngồi ở bộ tư lệnh và chờ đợi những thắng lợi tốt đẹp, các ông có biết tâm trạng của những người lính phải ngồi lại phờ phạc như đoàn quân thất trận trên những con đường trong rừng sâu không... Tôi thật nghi ngờ về cái kết quả của chiến dịch "Nguyệt quế" lại có thể tiêu diệt được 330 Việt Cộng .
Trung đội 1 của đại đội trong khi lùng sục đã bị vướng mìn, 9 người gồm cả trung đội trưởng đã phải đưa về hậu phương. Cũng may quyền chỉ huy đã được giao cho hạ sĩ Moon. Trong khi lùng sục, do bất cẩn tôi cũng đã vướng phải dây mìn 60mm do đối phương gài lại. Chốt an toàn đã bị tung ra, nhưng thật may mắn là mìn đã không nổ.
Khu vực mà chúng tôi được lệnh lùng sục trong ngày đầu tiên là một ngọn núi mà lên tới đỉnh khoảng 400m. Sau 10 giờ leo trèo,lên tới đỉnh, lính của tôi gần như đã kiệt sức. Bộ quần áo chiến đấu của tôi loang lổ những vết muối do mồ hôi đọng lại. Đây là kết quả của việc phục tùng lệnh cấp trên.Sau những cố gắng có khi phải trả bằng máu ấy, cái mà chúng tôi phát hiện được chỉ là những chiếc xẻng dùng rồi, được bỏ lại trong hang núi. Tôi trông thấy cảm giác thất vọng tràn trề trên khuôn mặt binh lính.
Phải làm thế này trong một tháng liền ư. Tôi muốn được ngẩng lên trời mà chửi thật to. Đây là cái trò hề gì vậy. Bây giờ chúng tôi mới hiểu được sức mạnh của thiên nhiên. Thời tiết thì nóng bức mà nước uống thì không đủ. Trên người, kể cả chỗ kín bắt đầu sinh bệnh ngoài da. Có những lúc sấm chớp rồi mưa sầm sập trên đầu. Những cơn mưa trong rừng nhiệt đới ở đây cứ như dùng nước dội lên đầu vậy. Có căng bạt lên cũng chẳng ăn thua gì. Binh lính không còn cách nào khác là phải dừng mọi việc lại chờ cho tới khi mưa tạnh. Và ngồi cầu nguyện sao cho sét đừng đánh vào mình. Có một lần xảy ra cháy và có lệnh sơ tán, những binh lính chỉ có biết ngồi run rẩy sợ hãi trong cánh rừng tối om, không thể biết được có cái gì phía trước.
Cả tuần rồi mà đại đội tôi không làm nên trò trống gì, ngay cả bóng của Việt Cộng cũng không phát hiện ra được. Ngược lại bệnh viện 106 đã đầy chặt lính bị thương và tử sĩ Hàn quốc vấp phải mìn. Bệnh viện đã phải căng thêm lán nhưng vẫn không đủ chỗ. Lính bị thương của đại đội tôi cũng chỉ được cấp cứu xong là phải đưa về đội cứu thương của tiểu đoàn. Trong thời gian đó đại đội tôi đã phát hiện và lùng sục được 40 hang núi. Chúng tôi cũng đã phát hiện khoảng 2 xe tải quần áo và đem đốt hết. Và chúng tôi cũng phát hiện những dụng cụ cắt tóc nữa. Nhưng điều mà chúng tôi thực sự mong đợi là Việt Cộng thì lại không phát hiện được một người nào. Rõ ràng là đối phương đã thoát ra khỏi khu vực lùng sục và ở xa đâu đó, đang xem vở kịch do quân Hàn quốc diễn.
Sau khi giai đoạn một của chiến dịch kết thúc, sư đoàn bước vào giai đoạn hai. Tại đây sư đoàn đã ra lệnh không cần phải cắt tai đem về nữa. Thế là đã đến nước phải chấp nhận báo cáo láo rồi đây. Mệnh lệnh này một lần nữa làm tôi vô cùng tức giận. Thế là kết quả tay trắng của giai đoạn một đã được dịp thay đổi.
Theo lời kể của binh lính thì một nhân viên của đội an ninh đã mua súng ở chợ với giá 20 đô la và bán lại cho họ với giá 40 đô la. Sau khi mua, họ tháo rời súng ra và bí mật đem vào trận đánh. Sau đó sẽ báo cáo là tiêu diệt 3 địch và thu được một khẩu M16 và sau đó chỉ đợi được tuyên dương.

* Đây là cuốn hồi ký của Kim Jin Sun, một cựu chiến binh Hàn quốc đã tham chiến ở VN trong biên chế sư đoàn Mãnh Hổ. Ông này đã về hưu với quân hàm cấp tướng. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, tướng Kim giữ chức Đại uý, Đại đội trưởng Đại đội 11 trong sư đoàn Mãnh hổ. Tướng Kim khá được trọng dụng vì "chỉ biết truy tìm và diệt Việt Cộng (VC)" với biệt danh "tướng cướp rừng xanh". Tuy nhiên qua hồi ký này người đọc sẽ thấy những gì diễn ra trong cuộc chiến ở Việt Nam đã làm tướng về hưu Kim Jin Sun phải suy nghĩ và ân hận trong giai đoạn cuối đời. Ông đã từng quay lại thăm Việt Nam và bày tỏ mong muốn nhận được sự tha thứ của nhân dân Việt Nam vì những tội ác mà quân Hàn Quốc gây ra.
1. Mục đích ad đăng bài muốn các mem có cách nhìn chân thực hơn về cuộc chiến,không nhằm kích động thù hận.
2. Không liên quan gì đến bộ phim,và chẳng nhằm đả kích ai cả.




"Ngày 3 tháng 4 năm 1970, đại đội của chúng tôi lùng sục xung quay con sông Lư Diên thuộc huyện Phù Cát tỉnh Bình Định. Trách nhiệm của tôi với tư cách là Đại đội trưởng là không được phép để cho bất cứ một Việt Cộng nào xuất hiện thuộc khu vực trách nhiệm chiến thuật của mình. Đại đội đang vượt sông và đi qua khu vực rừng tre, bỗng có tiếng súng bắn ra từ phía khu rừng vốn rất yên tình. Đó là khu vực đã có bắn nhau đêm qua, ba Việt Cộng đã bị chết bởi mìn Clâymo của tổ phục kích của chúng tôi. Thế mà giờ lại có tiếng súng.

Ngay lập tức đại đội vừa tiếp cận, vừa bắn tập trung vào khu vực phát ra tiếng súng. Nhưng tiếng súng vẫn tiếp tục, và hai lính tôi đã bị thương. Sau khi thấy không thể tiếp cận được, chúng tôi đã cho xe chở cối đến. Ngay lập tức một cơn mưa đạn cối xối xả và các súng phóng lựu được tuôn ra xối xả. Chúng tôi lại thử tiếp cận, nhưng tiếng súng quái ác vẫn dai dẳng bắn ra từ phía khu rừng. Cứ liên tục như vậy, chẳng mấy chốc 7 giờ đồng hồ đã trôi qua. Chuyện gì thế này? Một đại đội mà phải giao chiến với một nhóm quân địch.

Nếu để đến khi mặt trời lặn, quân giải phóng từ căn cứ 226 có thể tấn công. Nghĩ vậy, tôi đã phải dùng thủ đoạn cuối cùng. Tôi ra lệnh đặt chắc chắn hai khẩu súng máy ở phía bờ đê và bắn sao cho đối phương không thể ngóc đầu lên được, trong lúc hai lính của tôi sẽ bò lên tiếp cận vị trí của đối phương. Ngay sau khi súng ngừng bắn, hai người đó sẽ nhanh chóng xông liên tiêu diệt. Và chúng tôi đã thành công. Thắng lợi cuối cùng thuộc về chúng tôi.

Trận chiến đã diễn ra suốt 8 tiếng đồng hồ. Trong thời gian đó, không biết bao nhiêu đạn dược đã bị tiêu tốn. Hình ảnh của địch đã bị tiêu diệt sau khi đã kháng cự suốt 8 giờ liền đã làm tôi bị sốc thực sự. Chỉ có một người. Người lính giải phóng đó gần như bị tiện đứt một bên cổ chân, một bên cánh tay cũng bị thương nặng. Anh ta đã dùng bông và mảnh áo tự băng bó cho mình và chiến đấu với đại đội của tôi trong suốt 8 tiếng liền. Trong khi khám thi thể người chiến sĩ giải phóng, tôi đã phát hiện ở ngực anh ta có một cuốn sổ, trong đó có ảnh một thiếu nữ xinh đẹp với mái tóc dài buộc sang hai bên. Phía sau tấm ảnh là dòng chữ: “Em luôn yêu anh, dù anh ở bất cứ nơi đâu” bằng tiếng Việt.

Chắc chắn hai người là vợ chồng hoặc là người yêu. Đây là bằng chứng tình yêu của người thiếu nữ gửi cho người lính miền Bắc. Trong bầu không khí còn sặc sụa khói đạn, thoảng qua trong đầu tôi suy nghĩ, hoá ra anh ta cũng là người bình thường, cũng có người yêu.

Tám giờ đồng hồ quả là một quãng thời gian dài dằng dặc, có đủ thời gian cho việc đầu hàng. Đây là một việc hoàn toàn khác với việc lính của Nhật Bản cảm tử ôm bộc phá lao vào mục tiêu. Đó là một cái chết tức thì. Còn ở đây, anh ta chờ đợi cái chết trong 8 giờ liền. Trong thời gian đó, anh ta đã nghĩ gì, trong khi nếu không đầu hàng thì không còn cách nào khác là phải chết. Những ngưòi lính Hàn quốc bị thương bắt đầu báo thù lên thi thể của ngưòi lính giải phóng. Chúng tôi đem theo mảnh thi thể không còn hình thù, hành quân về căn cứ như một đoàn quân thắng trận. Mọi người nói rằng đây là truyền thống của đơn vị. Tôi vui vẻ dẫn lính về doanh trại, trong lòng không có cảm giác tội lỗi nào.

Hai mươi năm sau sự kiện đó, tôi đã là thiếu tướng, sư đoàn trưởng đóng ở Hwachon, tỉnh Kangwon. Một hôm trong lúc đang đi dạo một mình qua một hang núi tuyệt đẹp, những hình ảnh 20 năm trước đã làm tôi trào nước mắt. Tôi vừa khóc vừa hồi tưởng lại những sự việc của ngày hôm đó. Mặc dù lúc đó đối với tôi, người chiến sĩ giải phóng đó là địch, nhưng đó là một chiến sĩ dũng cảm,... Trong cơn điên loạn của chiến tranh, tôi đã làm tổn hại thi thể của người chiến sĩ ấy trong cơn say máu cuồng loạn. Sự hối hận đã vò xé lòng tôi.

Tôi đau lòng hơn khi nghĩ về người thiếu nữ trong ảnh, người mà bây giờ còn sống chắc đã 40 tuổi. Hẳn người thiếu nữ đó không biết về những giây phút dũng cảm cuối cùng của người yêu. Có thể người thiếu nữ đó đến giờ vẫn chờ đợi hoặc đi tìm tung tích người yêu cũ. Nếu tôi có thể giữ lại được dấu tích của người chiến sĩ ấy, có lẽ sẽ an ủi được phần nào trái tim của người thiếu nữ đó."



Trong bộ phim "Ván bài lật ngửa" ;Điệp viên Phạm Ngọc Thảo là nguyên mẫu vai Thành Luân do Nguyễn Chánh Tín thủ vai.
Có thể bạn chưa biết:
Điệp viên Mười Hương sau này từng yêu cầu ngừng công chiếu bộ phim "Ván bài lật ngửa" vì cho rằng tiết lộ quá nhiều thông tin liên quan đến tình báo và có thể gây nguy hiểm cho vợ con điệp viên Phạm Ngọc Thảo đang định cư tại Mỹ ( lo ngại họ có thể bị lộ và bị trả thù). Tuy nhiên,yếu tố đảm bảo bí mật và an toàn cho những người liên quan được đảm bảo (đến nay vẫn là ẩn số) ...và bộ phim vẫn được công chiếu.

Có một câu chuyện được kể lại bởi một cựu binh thủy quân lục chiến Mỹ từng tham gia trận đánh tại Khe Sanh năm 1968. Lính thủy quân lục chiến Mỹ lúc đó chiếm giữ căn cứ chính và một sân bay trong một thung lũng bao quanh bởi những ngọn đồi. Trong nhiều tuần, chỉ có một tay súng bắn tỉa nằm trên ngọn đồi đó bắn vào căn cứ, gây ra một vài tổn thất và hạn chế hoạt động của lính Mỹ.
Lính Mỹ đã phải mở nhiều cuộc tuần tiễu có pháo binh bắn phá nhưng vẫn không triệt hạ được tay súng này. Cuối cùng, lính Mỹ phải mở một đợt không kích với rất nhiều máy bay và đủ loại bom đạn, từ bom na-pan đến pháo 20mm. Tất cả lính Mỹ ở đó đã phải chui dưới hào khi diễn ra trận bom đạn tơi bời trên những ngọn đồi.
Nhưng khi máy bay vừa rút, phía những ngọn đồi, lửa vẫn còn rừng rực cháy, khói bốc cao tận trời, tưởng như không gì có thể sống sót được, thì tiếng súng trường lại vang lên. Tất cả những người lính thủy quân lục chiến Mỹ trong căn cứ nhất loạt đứng dậy reo hò bày tỏ sự ngạc nhiên ngưỡng mộ đối thủ của mình. Tay súng dũng cảm đó quả là một thách thức đáng kể!

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.


"Ván bài lật ngửa" - một bộ phim đỉnh cao của điện ảnh Việt Nam.




Tại một trạm quân y thời chiến - Cà Mau tháng 5/1970
Quân ta chiến đấu,sinh hoạt trong điều kiện vô cùng khó khăn

Đây là tiền thân của quân y viên 121





lực lượng thanh niên xung phong và công binh nhưng nhìn tấm hình có gì đó ko hợp lý. Bốn bên là rừng núi sao ko lấy hai cái cây cắm xuống thay cho người vừa an toàn lại chịu tải tốt hơn (bắt chéo hai cây thành hình x rất nhanh chỉ cần mấy phút)




Những hố tránh bom ven đường


Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.







Trao trả tù binh năm 1973 tại Quảng Trị sau khi hiệp định Paris được kí kết.
Trong số những người tù binh được trả tự do đó, có bác Sang - nguyên chủ tịch nước.


Vào một ngày cuối tháng 4/1973 ,tức là chỉ vài tháng sau khi hiệp định Paris được kí kết. Tại vùng chiến sự bom đạn Quảng Trị ,nhà báo Chu Chí Thành đã ghi lại khoảnh khắc những người lính Giải phóng và lính VNCH từ hai chiến tuyến vui vẻ trò chuyện, tặng nhau những món quà đơn giản làm kỉ niệm.
Vì đó đều là những con dân đất Việt, đều yêu hòa bình,chán ghét chiến tranh

Bắt sống giặc lái Mỹ. Không được giết họ. Họ cũng chỉ làm theo lệnh cấp trên. Tính mạng của họ đáng giá để đổi lấy những đồng chí đang bị giam cầm của chúng ta.
O du kích nhỏ dương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu !

 Ông tay nay cách đây 2 năm vẫn về Việt Nam! Thăm lại o du kích ngày nào
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.
Quảng Trị, ngày 17 tháng 8 năm 1972.

Em thương nhớ!
Thư em đến với anh giữa lúc anh cùng đơn vị chuẩn bị lên đường đi chiến đấu. Lẽ ra anh không báo tin này cho em và gia đình biết, phần vì thời gian rất gấp và khẩn trương, phần vì anh không muốn em phải lo lắng nhiều vì anh.
Em thân yêu! Ở xa em có thể hiểu được tâm trạng của anh lúc này không.
Bất kỳ một vinh quang nào cũng cần phải trả bằng mọi giá. Và khó khăn gian khổ càng nhiều, thử thách càng nhiều, sự vinh quang đó càng trở nên rực rỡ. Chúng ta đừng đi tìm những chân lý sâu xa đơn thuần qua những áng văn và những bài thơ, bài toán. 30/4/1975 anh sẽ trả lời cho em “hạnh phúc là gì?...”
Ngày mai anh sẽ hành quân, anh sẽ không ngủ để nhớ em, không ngủ để diệt thù, không ngủ để nhìn em suốt canh thâu, không ngủ để gần em và luôn thấy em!
Em yêu thương và nhớ mãi của anh!
Chỉ còn 3 giờ đồng hồ nữa. Có lẽ chiến thắng của quân dân ta ngày mai có thể có cả công anh. Nhớ theo dõi tin thắng trận và mừng cho anh em nhé. Và đêm nay anh không ngủ để ghi nốt trang thư trên mảnh đất này, phòng khi đã "đi nghiên cứu bí mật dưới lòng đất" thì em khỏi thấy đó là điều đột ngột..
Nhận được thư này đừng nên lo lắng nhiều và buồn em nhé! Coi như Anh đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau...


Nguồn: ‪#‎ComCom‬

Lá thư này của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc gửi cho bạn gái Như Anh thì phải, mình đã đọc cuốn nhật ký "mãi mãi tuổi 20" của anh lần này là lần thứ 3,trong đó có câu "bất kỳ 1 vinh quang" đến "hạnh phúc là gì". Bởi chính Thạc là người đã có dự cảm về ngày 30/4/1975



Bức thư kỳ lạ của một liệt sỹ
Như linh tính, biết mình sẽ hy sinh, người lính đó đã gửi về gia đình một bức thư nói rõ nơi chôn cất. Sau bao nhiêu năm, lần theo thông tin ấy, gia đình đã tìm được hài cốt của anh.

Biết trước cái chết

Đợt vào thăm thành cổ Quảng Trị, tôi nhớ lời dặn của những người lính: Hãy bước nhẹ trên từng vạt cỏ, bởi nơi ấy có xương máu thân thể của những người lính đã ngã xuống. Như sợ các anh đau, chúng tôi luôn bước thật nhẹ. Nhưng xúc động hơn, khi chúng tôi vào thăm khu di tích thành cổ Quảng Trị được đọc một bức thư. Bức thư đã khiến tôi và bao nhiêu người khác rơi lệ. Bức thư của một người lính đã hy sinh được anh viết trước khi mất 3 tháng giữa những ngày bom đạn khốc liệt nhất ở Quảng Trị.

Anh là liệt sỹ Lê Văn Huỳnh, ở xã Lê Lợi (Kiến Xương - Thái Bình). Bức thư đó anh viết để gửi cho người mẹ già đang mong ngóng đợi anh và cho người vợ cưới được 7 ngày đã phải xa chồng. Nội dung thư viết:

“Quảng Trị, ngày 11-9-1972
Toàn gia đình kính thương!

Hôm nay con ngồi đây biên vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.

Mẹ kính mến! Thư này tới mẹ là con đã đi xa rồi. Chắc mẹ đau buồn lắm. Lớn lên trong vòng tay mẹ từ khi còn trứng nước, chưa kịp báo đáp công ơn sinh thành, giờ con đi xa là để lại cho mẹ nỗi buồn nhất trên đời.
Con rất hiểu đời mẹ đã đau khổ nhiều, nhưng mẹ hãy lau nước mắt để sống đến ngày đón mừng chiến thắng. Con đi, mẹ ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên mẹ. Coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau…

Em yêu thương. Mọi lá thư đến với em đều là nguồn động viên em khi xa anh. Song, lá thư này đến tay em sẽ là nỗi buồn lớn nhất. Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh….

Anh biết em sẽ không đọc nổi lá thư này, nhưng em hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại. Anh chỉ mong em khỏe, yêu đời, nếu có điều kiện, hãy cứ đi bước nữa, vì em còn trẻ lắm. Anh chỉ mong em sẽ luôn nhớ đến anh và hãy thắp hương cho anh vào ngày giỗ anh. Hãy là người con dâu hiếu thảo của mẹ, là người em ngoan của các anh chị anh…

Sau này hòa bình lập lại, nếu có điều kiện vào Nam, hãy mang hài cốt anh về. Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó… Em sẽ đọc lá thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi truy điệu lịch sử này….

Chào mẹ, chào em, chào tất cả gia đình và làng xóm quê hương.

Ký tên

Lê Văn Huỳnh…..”.

Lá thư này được liệt sỹ Lê Văn Huỳnh viết vào một ngày tháng 9-1972, trước ngày anh hy sinh hơn 3 tháng. Không ai hiểu tại sao anh biết trước cái chết của mình, biết tường tận nơi mình sẽ nằm xuống…
*7 ngày làm vợ

Tôi quyết định tìm về Thái Bình để gặp “người phụ nữ đợi chờ” trong bức thư của người liệt sỹ. Bà vừa bước sang tuổi 65, tên là Đặng Thị Xơ - người cùng xã với liệt sỹ Huỳnh. Mối tình đẹp của hai người đã trở thành huyền thoại ở xã Lê Lợi cho đến hôm nay. Ngày ấy, chàng sinh viên ĐH Xây dựng vừa đẹp trai lại thông minh phải lòng một cô gái trẻ đẹp nhất làng. Trong những người đàn ông theo đuổi chị, chị chỉ yêu và chọn anh. Gia đình hai bên bao nhiêu lần giục cưới nhưng chị đều lần lữa vì sợ ảnh hưởng đến việc học hành của anh.

Tết dương lịch năm 1972, anh từ Hà Nội trở về thăm nhà và thông báo với chị: anh sắp lên đường nhập ngũ. Vậy là họ quyết định cưới nhau trong vài ngày nghỉ ngắn ngủi đó. Một đám cưới nho nhỏ nhưng ấm cúng diễn ra vào ngày 2-1-1972. Sau đám cưới, anh được ở nhà 3 ngày rồi tiếp tục lên trường. Tết Nguyên đán năm đó, anh được nghỉ và về nhà thêm 3 ngày nữa là 6. Trước ngày lên đường nhập ngũ, anh tranh thủ thăm nhà được 1 ngày rồi vĩnh viễn không bao giờ trở về. Tính từ ngày cưới cho đến lúc anh hy sinh, vợ chồng anh chị ở bên nhau trọn vẹn được 7 ngày, 7 đêm.

Những ngày 2-1

Lần cuối cùng gặp nhau, anh đã nắm tay chị dặn dò: “Mình là vợ chồng. Anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh, em nhé”. Chị nghe anh nói mà ứa nước mắt: “Dù anh có thế nào đi chăng nữa, em vẫn là vợ của anh trọn đời”.

Nhưng chị không bao giờ ngờ rằng, ngay cả việc được đón anh trở về, dù không lành lặn, cũng trở thành một ước mơ quá đỗi xa vời đối với cuộc đời chị. Sau ngày nhập ngũ, anh theo đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, chiến trường khốc liệt nhất những năm 1972-1973. Và anh đã mãi mãi nằm lại nơi đó.

Trong những lá thư anh gửi về từ chiến trường, bao giờ cũng có một phần gửi mẹ, một phần gửi cho các anh chị trong nhà, một phần viết riêng cho chị. Chị nhận được thư anh đều đặn mỗi tháng. Nhưng sau lá thư tháng 12-1972, ông bưu tá vẫn đạp xe mang thư về làng không bao giờ dừng lại ở trước cửa nhà chị nữa. Từ đó, chị mất tin anh.

Trái tim người vợ mách bảo chị về những điều chẳng lành, những điều mà chị không dám nói ra với bất cứ ai nhưng vẫn hiểu nó đang ngày càng trở nên hiện thực đối với cuộc đời chị.

Sau Tết Nguyên đán năm đó, giấy báo tử của anh về đến địa phương. Sợ chị không chịu nổi cú sốc đó, người chị dâu khi đó đang làm ở xã, đã xin hoãn báo tử 3 tháng. Đến tháng 5-1973, giấy báo tử mới chính thức được gửi về nhà chị, cùng toàn bộ quân tư trang của anh. Anh hy sinh vào ngày 2-1-1973, đúng kỷ niệm tròn 1 năm ngày cưới. Và những ngày 2-1 sau này là những ngày chị buồn nhất, khóc nhiều nhất và cũng thương anh thật nhiều. Nhưng thương anh bao nhiêu, chị tự hào bấy nhiêu. Tự hào vì anh là người lính dũng cảm, tự hào vì anh đã chết vì lý tưởng cao đẹp.

Bức thư viết tháng 9-1972 nhận được như lời trăng trối. Nhưng mãi đến năm 2002, chị mới có thể lên đường và đúng như bức thư anh viết, mộ anh ở đó, ở thôn Nhan Biều, trên mộ có một tấm tôn ghi rõ tên anh: Liệt sỹ Lê Văn Huỳnh.

Bà Đặng Thị Xơ bảo: “Lúc này tôi nhớ đến lời anh viết trong bức thư “hãy gạt nước mắt cho đời trẻ lại” và cảm nhận như thấy mình và anh trong ngày mới cưới. Tôi ôm hài cốt anh, bao nhiêu năm xa cách, tôi lại được ôm anh. Chỉ có điều, tôi khóc nhiều hơn, còn anh thì lặng lẽ. Tôi biết rằng, yêu 



anh – yêu một người chiến sỹ, yêu một liệt sỹ là chấp nhận sống cuộc đời chờ đợi”.
‪#‎Mưa‬




Một thời lén cột đá vào người để đủ cân nặng xét tuyển nghĩa vụ quân sự...để được xông pha chiến trận,vì một Việt Nam thống nhất,Bắc - Nam một nhà.


Điều gì làm những thanh niên miền Bắc ngày ấy vui mừng đến vậy??? Bạn có đang thắc mắc?
- Họ đỗ ĐH ư? Không!
- Họ được thưởng thêm vài kg thịt, thêm vài m vải sao? không!
- Nhận được thư người yêu? (càng) Không!
....
Họ vừa nhận được giấy báo trúng tuyển Nghĩa Vụ Quân Sự!!!
Tức là: Những chàng trai mười tám đôi mươi này sẽ ĐƯỢC lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, khát khao cháy bỏng của mọi thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ, muốn đi "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào!"



Trích hồi kí Võ Văn Be (thân nhân của một sĩ quan VNCH):
"...Ở quê tôi ngộ lắm các bác ạh, chuyện người chiến sỉ cách mạng và lính biên phòng VNCH ngồi ăn nhậu chung mâm với nhau là chuyện bình thường, ngoài chiến trường thì là kẻ thù, nhưng khi tập trung hợp mặt gia đình thì là anh em, chẵng ai trách ai cả chẵng qua là do thời thế đất nước lúc bấy giờ, đa số thanh niên đi lính VNCH đều bị ép quân dịch cả, chứ chẳng ai ham đi làm gì để gây thù chuốc oán với nhân dân xóm làng mình đâu, tụi nó cầm súng cho có lệ vậy chứ có đánh đấm gì nhìu đâu, gặp mấy ông cách mạng đi ngoài đồng thì bắng chỉ thiên lên trời vài phát cho mấy ổng tránh xa chổ khác mà đi thôi chứ toàn là bà con chòm xóm không ai nở đánh nhau làm gì, bản chất cũa người dân quê tôi là vậy đó, tính dân tộc anh em là trên hết, còn chuyện phe này phe kia chỉ là tượng trưng mà thôi.

Chiều hôm đó chúng nó đem ra tất cả những gì ngon nhất trong đồn ra đãi tôi, nào thì thịt hộp của Mỹ, khô nai Đà Lạt, rượu vang Pháp, toàn những thứ thượng hạng mà chỉ có quân VNCH mới được ưu ái như thế, sau chầu ăn nhậu no say thì chúng nó lại đàn hát vang trời, không khí giống như những người chiến thắng chứ không phải bị đánh bại, quả thật là như vậy các bác à, một khi nước nhà đã được thống nhất thì bất kỳ người Việt Nam nào mà không vui như ngày hội, chỉ có những tên phản bội quê hương đất nước chạy theo Mỹ thì mới nhục nhã thôi, còn bọn nó chỉ là những người lính , mà chúng nó cũng là người Việt Nam, nên khi ngày hội của cả đất nước cả dân tộc thì cũng phải cho chúng nó vui lây chứ, thế rồi tôi cũng thiếp đi trong tiếng hát lời ca của bọn nó..."


"Sáng mãi tên anh người con của đất nước 
Sông núi reo ca người anh hùng Thành Đồng bất khuất
Nguyễn Văn Trỗi…Nguyễn Văn Trỗi…"
(Vũ Thanh)
Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.

Về phong trào phản chiến trong lòng nước Mỹ: Jan Rose Kasmir, vào thời điểm đó là học sinh cấp ba, tham gia cuộc diễu hành đến Lầu Năm Góc để phản đối chiến tranh Việt Nam tháng 10/1967. Hình ảnh cô cầm hoa đứng trước hàng cảnh vệ được nhiếp ảnh gia người Pháp Marc Riboud ghi lại đã trở thành biểu tượng của phong trào phản chiến.
"Cô ấy chỉ nói chuyện, cố gắng thu hút sự chú ý của những người lính, có thể là đang cố gắng trò chuyện cùng họ", Riboud nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2004. "Tôi có cảm giác là những người lính còn sợ cố ấy hơn cô ấy sợ những lưỡi lê".
‪#‎Mưa‬

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.
Họ sống và chết.
Giản dị và bình tâm. 
Không ai nhớ mặt đặt tên. 
Nhưng họ đã làm ra Ðất Nước
Ps: Đừng để lòng yêu nước bị kẻ xấu lợi dụng, đừng để những hi sinh của cha ông ta là vô nghĩa… Lấy được hòa bình đã khó, giữ được hòa bình càng khó hơn….

Sau những giờ phi bom xuống miền Bắc và bị bắn hạ...tên phi công Mỹ được di chuyển bằng phương tiện rất chi là Việt Nam.
(Tù binh Mỹ có chế độ ăn uống cao hơn bộ đội ta lúc đó, phải đối xử tốt với mấy tay này để trao đổi tù binh - cứu các chiến sĩ của ta đang bị tù đày...)....

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.



" Khi bắt được một tên Việt Cộng,nếu chúng không chịu khai thì lính Mỹ và VNCH thường giao cho chúng tôi...nếu tên tù binh không bản lĩnh thì sẽ khai ngay..." - trích hồi kí Kim Jin Sun (cựu lính Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam)






Sau một trận đánh với thực dân Pháp tháng 1/1954 ,người lính Việt Minh lấy nước của mình đưa cho những lính Pháp đang bị thương uống...
Và chỉ vài giờ trước, giữa họ vẫn "một mất một còn".
Nguồn: VNW

Các cụ nhà ta trong một trận phục kích quân Pháp.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam - VietNamese People's Army's photo.
Comments