Culture studies‎ > ‎

Literature: Contemporary stories


CUỘC TÌNH TUYỆT CHỦNG

Nguyễn Ngọc Tư

Truyện cười

.


Mối tình của Nị đã tồn tại tới ngày thứ bốn mươi. Bất chấp những đồn đoán thêu dệt của cả nhà Nị, tối qua chàng vẫn thắm thiết đưa Nị về. Sự kiện này làm em trai của Nị thua độ trầm trọng, nó cá với mọi người năm chầu nhậu quả quyết lần này Nị cặp bồ không quá con trăng. Có lý do để nó tin vậy, Nị đã qua mười bốn mối tình, mỗi mối tình được nhiều lắm là nửa tháng, có khi chỉ hai ngày. Nị xinh đẹp, dịu dàng, không phải là cô gái sâu sắc cả nghĩ, không quá cầu kỳ đòi hỏi đối phương phải có ngoại hình bắt mắt, cơ bắp săn chắc, vàng bạc lắc cắc nhưng đường tình duyên cứ lận đận vì cái chủ nghĩa lãng mạn mà Nị ôm ấp tôn thờ. Nên có chàng đẹp trai như anh Hugh Jackman, thông minh như chú Ngô Bảo Châu, giàu gần bằng chú Bill Gates mà Nị vẫn ngoe nguẩy nguýt ngang không thèm ngó tới, chỉ vì chàng kia hong biết câu thơ lãng mạn nào, kiểu như ta buồn hong biết mần sao ta buồn, chỉ vì chàng ta thấy trời kéo mây đen liền hối, đi lẹ lên em ơi kẻo mưa là ngập đường, có nước sắm sào đứng trên xe Rolls-Royce của mình mà chống.

Chàng mới nhất, mối tình mới nhất của Nị chỉ đi xe đạp, một chiếc xe đạp cũ mèm ốc vít rơi rụng như mưa sao băng, không ngờ ăn điểm ngay trân chỗ đó, thời này đi xe đạp phải có tâm hồn lãng mạn ghê lắm, xe càng cũ chứng minh lòng chung thủy càng cao. Nị đoán đúng, chàng lãng mạn quá sức tưởng tượng. Chàng yêu thích những cơn mưa sầm sập làm những con đường biến thành sông rạch, lúc đó Nị lội bì bỏm cạnh chàng, tà áo dài nổi lềnh bềnh trên mặt nước bên cạnh cùi bắp, xác mía cùng muôn vàn rác rưỡi, “Nhìn em mộng mị, não nùng làm sao đâu…”, chàng ngẩn người khen. Nị sướng lịm người. Đi chơi với nhau, bị mắc trong đám kẹt xe dài tám cây số, chàng vẫn ung dung như không, chàng kêu Nị chịu khó lắng nghe tiếng còi xe inh tai điếc óc chung quanh có phải hao hao giai điệu bài “Diễm xưa” nổi tiếng không. Nị nhắm mắt mơ màng, nói giờ chuyển qua bài “Con thuyền không bến” rồi đó anh. Bởi vậy đôi tình nhân chẳng cần phải vội vã gì, vừa nghe những giai điệu trữ tình vừa ngắm khói đen phụt ra từ hàng ngàn ống xả xe máy trước khi tan vào không trung đục ngầu, mường tượng từ khói bao nhiêu hình ảnh nên thơ tươi đẹp, kia là cây bàng lá vàng, kia là đôi chim lim dim, kia nữa là con thỏ ăn cỏ. Có bữa mơ mộng chán chê, Nị và chàng chụm ngoẻo đầu ngủ ngồi một giấc, lúc thức dậy vẫn còn xe vẫn còn kẹt dài bốn cây số rưỡi, đôi tình nhân không thấy bực chút nào, lại vui vẻ mơ mộng tiếp.

Nhiều khi Nị phải nhéo đùi coi đây có phải là giấc mơ không khi gặp một người tình lý tưởng vô cùng tận. Lọt vô con đường dằng dặc lô cốt, phải va quẹt nhích từng chút một, bầu trời bị che chắn chật muốn ná thở, chàng ngước lên bảo, thấy không em lô cốt làm bầu trời như một khung tranh vậy, nếu có con diều bay nữa thì thơ mộng còn gì bằng. Dây điện chằng chịt búi nhỏ búi to chàng nói tóc của thành phố đó em, mấy hôm rày gió nhiều nên tóc rối. Bụi đường mù mịt với chàng là sương mù, là khói đốt đồng. Nhờ sự lãng mạn bay bỗng của chàng, Nị thấy thành phố này đúng là thiên đường, bỏ xa Jeju, Vience, Paris, Hawai, Praha… Tới khi cưới đâu có cần hưởng tuần trăng đâu xa, Nị gật gù nói vậy. Nhắc cưới mới nhớ vài mối tình xưa đã tan vỡ vì bàn chuyện cưới mà chàng kia chỉ quan tâm sau đám cưới vợ hay chồng sẽ giữ tiền; đãi tiệc thì nên đãi buổi trưa ai nấy cũng mệt mỏi không ăn được bao nhiêu chứ đãi chiều nhậu đầm đìa tới nửa đêm là lỗ sặc máu; đi du lịch trăng mật nên đặt vé máy bay trước sẽ được giảm hai mươi lăm phần trăm. Nghe ớn ói.

Nhưng người tình đương kim của Nị không bao giờ quan tâm tới tiền bạc, quãng thời gian giáp lương (cũng như nông dân kỳ giáp hạt ấy), chàng không đưa Nị la cà quán xá mà rủ nhau ăn đồ nướng các loại bao gồm khoai nướng chuối nướng bắp nướng rưới lên nhiều nhiều mỡ hành, ngồi ở lề đường ngó lá me bay, thở khói khoai mà tình tự, lãng mạn kinh khủng. Bụng chàng sôi rột rẹt, chàng nói em nghe chăng tiếng lòng anh đang réo gọi tên em ?

Cả nhà mừng cho Nị, chỉ chị Nhí là hơi nghi ngờ, chị đang mất lòng tin vào đàn ông nói chung. Xưa chị yêu và cưới một anh vô cùng nhỏ nhẹ và tử tế, ai dè chỉ bữa sau chồng chị cuốn gói theo… trai. Phải theo gái chị Nhí cũng hong tức, đằng này theo trai, ta nói chị hận dễ sợ. Càng hận càng thấy bồ của Nị đáng nghi ngờ, không thể nào trên đời này có người không quan tâm tới kẹt xe, ngập nước, cũng chẳng coi tiền bạc ra gì. Như động vật quý hiếm trong sách đỏ, thấy hong bình thường à nghen.

Ngày thứ bốn mươi chín, Nị về nhà một mình với cái mũi cà chua, mắt dâu tây, miệng mếu máo như trái táo nói chia tay chàng kia rồi. Hôm nay hôn nhau ngoài bãi cỏ xong chàng ta thấy nóng nảy dậy động trong người hay sao mà rủ, mình tới nhà trọ nào đó tâm sự ấy ấy đi em. Một con người lãng mạn chừng ấy, tinh thần cao quý chừng ấy mà cuối cùng cũng đòi vô một nơi trần tục làm chuyện trần tục ấy ấy là sao, Nị ngửa mặt kêu trời.

Chị Nhí nghe xong gầm lên, con Nị này ngu quá bay ơi, có phước mà không biết hưởng. Thằng đó nó đi đường nào, ngã nào, để chị đuổi theo coi còn kịp không ?


BẠN BÈ TRĂM NGÃ

Nguyễn Ngọc Tư.
.

Bạn học hồi cấp ba gọi điện, nói chùa nó mới làm trang web, tính nhờ tôi viết giùm lịch sử chùa, dầu gì tôi cũng có tí văn chương nên viết sẽ suông. Tôi nghe mấy chữ “chùa tui…” bần thần quá, hỏi đi hỏi lại phải Th không, phải Th nhà có mấy cửa hàng thuốc tây nổi tiếng ở đây không, nó cười khùng khục trong điện thoại, chớ ai. Cho tôi chắc ăn, nó nhắc thêm vài kỷ niệm hồi còn đi học. Là Th, không ai khác. Bạn tôi.

Mà con nhỏ đi tu hay sao mà liên quan tới chùa chiền, trời ? Tôi trông gặp Th. Bữa Th tới đưa tôi đi gặp sư cô trụ trì chùa, tôi thở phào, nó cũng còn tóc. Th chắc quy y hay sao mà có pháp danh rồi, là Tâm Nghĩa. Ngồi gần sư cô, nó luôn miệng nhắc sư phụ đừng uống cà phê đá, mấy hôm rày sư phụ viêm họng mà, sư phụ uống trà gừng con mới pha nè. Nhìn cái cách Th thông thuộc bếp núc tủ chạn trong chùa, cách nó âu yếm nhìn sư cô, kiểu nó trò chuyện, tôi cảm giác nó coi chốn này hơn cả nhà mình. Tự dưng tôi lo quá, lo mai mốt Th xuống tóc xuất gia luôn.

Điều đó có nghĩa trong đám bạn tôi có người đi tu. Cũng như có người làm công an, chủ tịch phường, quản lý thị trường, viết đơn mướn, chủ vựa cừ tràm, vựa tôm, xã hội đen… Mấy bạn này tôi coi như làm nghề hơi… khác thường nên tôi kể trước, số còn lại cũng dạy học, làm kế toán, làm bưu điện, bán quán cà phê… Có lần tôi dặn thằng bạn làm ở phòng quản lý văn hóa văn nghệ của Sở công an, “ông có theo dõi tui thì giữ khoảng cách chút, chồng tui ghen lắm nghen…”. Nó cười. Nhiều lúc nghĩ nếu tập hợp nhóm bạn bè cũ lại, chắc sẽ như đại hội mặt trận Tổ Quốc, đông đủ thành phần xã hội. Vài đứa làm nghề còn chỏi tông nhau, bạn công an đối chan chát với bạn xã hội đen chuyên đòi nợ mướn, bạn vựa tôm biết đâu đã bị bạn quản lý thị trường hốt mất một mẻ hàng, bạn chủ tịch phường đang điên đầu vì mấy cái đơn kiện coi chừng do bạn viết đơn mướn chấp bút… Xảy ra những chuyện đó, không thể nói rằng tụi nó không thương nhau .

Nhưng cuộc gặp gỡ đó chưa bao giờ xảy ra, chúng tôi hoặc quá bận mưu sinh hoặc tản mác góc biển chân trời, có đứa còn lấy chồng xa nửa vòng trái đất… Thỉnh thoảng gặp lẻ tẻ vài ba đứa, lôi kỹ niệm cũ ra nhắc tới lui, chuyện hiện tại nói vài ba câu thì hết, vì không chung đường, chung môi trường sống. Không khí ngượng ngịu. Nhát gừng. Thời gian đã làm người này không còn giống như trong nỗi nhớ của người kia. Lại thêm nỗi nghề nghiệp tréo ngoe, dù cố tỏ ra phớt lờ chuyện đó, nhưng vẫn phải dè chừng. Tôi mà gặp thằng bạn công an, miệng tôi khen nó đẹp trai, mà trong bụng tôi nghĩ, trời, coi vậy mình đi đâu gặp ai thằng này biết hết, bởi vậy nó cứ nhìn mình cười cười suốt. Ngồi chơi mà nhậu không dám say, nói không hết điều mình nghĩ, thì buồn.

Biết làm sao được, mỗi người đều đã có chọn một lối đi riêng, bạc mặt mưu sinh lúc ngẩng lên thì thấy mình già mất, ký ức bạn bè hồi niên thiếu mờ nhạt, thảng hoặc. Tin bạn thì hiếm hoi, lâu lâu nghe tin đứa này lấy Hàn Quốc, đứa kia bị vợ bỏ đang gà trống nuôi con, thằng tôi thương thầm hồi lớp 7 giờ ba trợn sau một tai nạn giao thông…

Với chút tin ít ỏi đó có khi còn sai, bữa gặp Th tôi hỏi thăm con nó học lớp mấy rồi, Th ngó tôi cười, “kiếm đâu ra con, tui chưa chồng mà…”. Trời đất, vậy mà tôi nhớ tôi từng đi đám cưới của bạn, nhớ bữa đó ngồi chung bàn với thằng bạn giang hồ, nó dặn, mai mốt có mất xe nhớ gọi cho tui, tui sai tụi đàn em đi lấy lại cho, công an kiếm không ra đâu…

Nhưng cái tiệc cưới đó không phải của Th. Sư cô xác nhận là đệ tử Tâm Nghĩa không nói chơi bằng cách trách yêu nó, nói cùng là bạn học với nhau mà giờ bạn đã có chồng con để huề, còn Tâm Nghĩa sao không chịu lấy chồng đi. Tôi nói thầm trong bụng, Th mà ham thế tục như tôi thì sư cô làm gì có một đệ tử chí tình tên Tâm Nghĩa, chiều nào cũng chạy xe máy gần mười cây số để đến chùa nghèo cầu kinh.

Th gần như không vướng víu gì nữa, cho bất cứ cuộc đi nào. Tôi tin vậy. Dù nghĩ con bạn xinh đẹp giàu có của tôi đi tu thì kỳ lạ quá, nhưng đường tôi chọn đi cũng kỳ cục kém gì ?


MÓN NỢ KHÔNG THỂ ĐÒI

Nguyễn Ngọc Tư.
.

Mẹ đi đằng trước, con lẽo đẽo theo sau, buổi chợ sớm mai thưa người nhưng chộn rộn vì những câu hỏi ríu ran của thằng nhỏ. Mẹ ơi, con cá gì mà có cái mỏ dài quá vậy, thằng con chỉ tay vào con... vịt, hỏi. Nhưng khi mẹ trả lời đấy là con vịt, nó giãy nảy, con vịt phải có lông chứ. Dằng dặc sau đó là những câu hỏi khác, tại sao con cá kia lại nằm im re, vì sao nó chết, ai làm nó chết. Tại sao cọng rau này màu tím còn rau kia màu xanh. Mẹ vẫn nhẫn nại trả lời con và diễn đạt làm sao cho giản dị, dễ hiểu. Chỉ câu hỏi: “Mẹ ơi, tại sao người ta đem bán cá em bé? Sao người ta không cho cá em bé đi học mẫu giáo mà ăn thịt tụi nó làm chi, tội nghiệp...”, mẹ phải ngẩn ra rất lâu, phân vân tìm câu trả lời.

Nhưng không thể lờ đi, vì thằng con ngước con mắt đầy vẻ xót thương nhìn mẹ, như chờ đợi, như van xin, như cầu cứu. Trong cái thau gần đầy nước, hàng triệu con cá con (mà thằng nhỏ xem như bạn đồng trang lứa với nó) đang chen chúc nhau đớp không khí một cách tuyệt vọng. Lứa cá nhỏ hơn đầu đũa này thường là từ 15-30 ngày tuổi, người ta gọi là rồng rồng. Hơi giống trẻ con, lúc mới chào đời rồng rồng có màu đỏ, và ngả sang đen khi chúng lớn dần lên. Lúc ấy, chúng sẽ từ bỏ cái tên cúng cơm của mình, xúng xính với tên mới: cá lóc.

Rồng rồng được cá mẹ sinh khi trời bắt đầu rải xuống những sợi mưa. Nước hớn hở dâng lên, tắm mát những ao, đìa đã mỏi mê vì những ngày khô kiệt. Sấm chớp vẫn lừ đừ, gầm gừ trong những đám mây nặng trĩu nước. Sa mưa! Những nụ mầm mới bắt đầu nhú lên trên những cọng rau muống, rau đắng, rau ngổ... già nua. Những sinh vật của ruộng đồng như cá, ếch... vào mùa sinh sản. Lúc này, trong ao hay xuất hiện những bầy rồng rồng - những quầng đỏ lâm nhâm trên mặt nước, to như cái nia, di chuyển lấp lánh, nhịp nhàng.

Đây cũng là khoảng thời gian mẹ đi chợ, hay thấy lòng buồn rợn ngợp. Đầu chợ là cá rồng rồng, cuối chợ cũng cá rồng rồng. Trên nền chợ đẫm nước, bên mớ rau đồng xanh non, là những con ếch, nhái đã bị lột da tuyệt vọng chắp tay lạy lia lịa, ọc ạch nhảy trên mâm, na cái bụng trứng lặc lè. Ai cũng có thể nhìn thấy muôn vạn hạt trứng nhỏ lấm tấm bên trong. Dài theo lối đi, người ta bày bán mấy con cá lóc ốm nhom vật vờ bên cạnh lũ cá rô, cũng lép kẹp, chỉ bụng là quá khổ vì phải bọc lấy trứng. Cá quãng này ăn không béo, nhiều nhớt, tanh, thịt cứng, dai nhách. Dường như lũ cá đã cố ép xác, tự làm mình xấu đi, già đi, nhếch nhác, xóa dấu của sự hấp dẫn để bảo vệ lũ con sắp chào đời nhưng cũng không thoát khỏi bàn tay của con người.

Nhưng giữa chợ đời, chẳng mấy ai để tâm mà cám cảnh cho phận rồng rồng, cho con cá... có bầu, như mẹ. Hay ai cũng thấy bất nhẫn, nhưng họ cũng im lặng làm ngơ, như mẹ. Khi lấy đũa gắp mớ rồng rồng kho tiêu thơm lựng, họ cũng thấy áy náy, quá nhiều sinh vật mất cơ hội sống chỉ vì một miếng ăn của con người? Hay họ vô tư, chẳng nghĩ gì cả, bằng chứng là những sinh vật tội nghiệp ấy đã bị tận diệt hết sa mưa này đến sa mưa khác, bất chấp lệnh cấm của chính quyền (cũng phải, ngang nhiên bày bán mà có thấy ông chính quyền nào lên tiếng đâu, mắc gì phải sợ).

Mẹ đắn đo rất lâu, mẹ sợ suy nghĩ kia được nói nên lời sẽ là quá tàn nhẫn đối với đứa trẻ. Cuối cùng, mẹ nói, tại bà con mình còn nghèo. Vì nghèo, nên phải dầm mình kéo từng bầy rồng rồng, lội ròng rãi trên khắp đồng bãi tìm bắt từng con nhái, con ếch để đổi lấy ít gạo. Vì nghèo, nên đang cạy cơm cháy bữa sáng đã lo ngay ngáy bữa chiều, hơi sức đâu nghĩ tới tương lai xa vời. Và vì bụng chưa no, nên những gì người ta rao trên đài, nào là phát triển và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, giữ gìn hệ sinh thái... chỉ là những ngôn ngữ xa vời.

Mẹ buộc phải nói những điều quá phức tạp, đối với thằng con năm tuổi. Nhưng đó là câu trả lời bao dung nhất, ít đau đớn nhất... Chắc chắn, lớn lên nó sẽ hiểu. Chỉ sợ, lúc đó, những sản vật của ao đồng trở thành hàng quý hiếm. Và vĩnh viễn thằng con không biết âm thanh ếch, nhái kêu ran ngoài đồng sau mưa, cảnh cá rô, thác lác ục sôi dưới đìa mùa hạn, tiếng cá lóc táp lụp bụp như dừa rụng xuống ao.

Tất cả những thứ ấy, như một món nợ mà lớp con cháu không thể đòi lại từ những thế hệ đi trước. Có trả nổi đâu mà đòi...


.......

TUỲ BÚT PHẢI LÒNG

Nguyễn Ngọc Tư.

"Giữa cái thời "dò sông dò biển dễ dò…" này, ta chọn cách nhìn người qua cách họ đối đãi với máu mủ, ràng ruột của mình, đương nhiên là không phải lúc nào cũng có độ chính xác cao. Ta vẫn mê những ông bố như chú cá hề Marlin trong phim "Finding Nemo", cười đến thắt lòng với Roberto Bengini trong "Life is beautiful", rơi nước mắt với Will Smith trong "The Pursuit of Happyness"… Ta mê cả những người xa lạ, những ông cha hồ hởi nán lại chờ con chơi xích đu trong sân trường mẫu giáo. Những ông cha lo âu ngồi bên ngoài hàng rào trường thi, xong buổi làm bài mệt nhoài cha đón con bằng cái xoa đầu và hỏi "mệt không ông tướng ?". Những ông cha lủi thủi lấy cùi tay quẹt nước mắt ngày con gái theo chồng...".

----------------------------------------

Cha lọm khọm, tóc bạc trắng. Cô con gái kém trí thì có gương mặt vĩnh viễn tuổi lên mười, tóc mỏng nhưng dài, óng mướt. Hai cha con thường cùng nhau đi ăn sáng, đôi khi ta gặp họ trên đường bèn chạy theo một quãng, đôi khi ta gặp họ trong quán bèn dòm lén. Đó là hai thực khách chậm rãi khẽ khàng, và ông cha thỉnh thoảng dừng đũa, vén tóc lên vành tai cho con gái. Ta cảm thấy phải lòng ông già này mất rồi.

Đã khỏi ngưỡng ba mươi, hết mơ mộng rồi, nhưng ta vẫn rất dễ phải lòng người thiên hạ, đôi khi không vì một nụ cười đẹp, bộ ria hay, ánh mắt ấm, dáng cao ráo hay tóc dày… mà chỉ vì cách họ yêu con. Có lần đi với đoàn thăm khám bệnh từ thiện của Hội nạn nhân chất độc da cam, tự dưng ta thương một bác nông dân lam lũ và đen đúa. Ông cõng đứa con tật nguyền tới trạm y tế xã, áo ướt ròng mồ hôi. Vậy mà khi đặt con xuống thềm chờ bác sỹ kêu, ông lau mồ hôi cho nó trước, và thằng nhỏ cũng là người uống trước khi ông mua một bịch nước sâm. Chuyến đó ta nhận ra mình phải lòng cả… đàn bà, khi gặp một bà mẹ ôm con trong lòng mà bàn tay chị lúc nào cũng bọc lấy bàn tay con, lúc xoa nhẹ lúc nắn khẽ, lúc day day ngón cái vẽ lên lòng tay nó những bông hoa. Cái nắm tay sẽ sàng, trìu mến.

Một người yêu thương con mình bằng những hành động tinh tế đến vậy thì dứt khoát không phải người xấu. Và dù có xấu bao nhiêu thì cũng không tới mức bỏ đi, ta nghĩ vậy. Ta có anh bạn in sách lần nào cũng với cái bìa dòm chán lắm, hỏi thì anh nói con gái làm cho. Ta tự dưng thấy cái bìa đó cũng… có cá tính quá chớ. Lại có anh bạn khác, tướng tá ra vẻ dân chơi, gặp lần đầu hơi sợ nhưng nghe anh nói chuyện cứ đôi ba câu lại khoe "con gái tớ…", ta bỗng hết e dè. Bạn ta nhiều anh sẵn sàng bỏ ta ngồi chơ vơ đằng quán để nháo nhào chạy đi đón con đằng nhà trẻ, thấy thương.

Trong đám bạn ta, có chàng "đa tình viên" nổi tiếng "đại đạo hái hoa", bạn hay khoe cô X ấy sinh con vài ba tháng đã dứt sữa để hẹn hò với bạn, và làm những chuyện ai - cũng - biết - là - gì - đấy. Bạn tự hào nói tình yêu X ấy giành cho bạn dữ dội lắm. Nhưng cứ khoe tới đó thì có cãi nhau, ta cười cười nói ông ơi con người ta người ta còn không yêu thì họ yêu gì ông. Có chăng họ yêu bản thân mình. Bạn đổ quạu cãi người ta yêu bằng trái tim còn cô yêu tỉnh trân bằng cái đầu, biết gì mà nói.

Sau đó là một khoảng lặng, ta thì đuối lý và bạn dường như suy nghĩ. Có phải không, khi họ không yêu thương máu thịt của mình, sao yêu được những người dưng chỉ ngang qua cuộc đời này, như ta, như bạn ? Cái gọi là tình yêu có phải tình yêu ?

Giữa cái thời "dò sông dò biển dễ dò…" này, ta chọn cách nhìn người qua cách họ đối đãi với máu mủ, ràng ruột của mình, đương nhiên là không phải lúc nào cũng có độ chính xác cao. Ta vẫn mê những ông bố như chú cá hề Marlin trong phim "Finding Nemo", cười đến thắt lòng với Roberto Bengini trong "Life is beautiful", rơi nước mắt với Will Smith trong "The Pursuit of Happyness"… Ta mê cả những người xa lạ, những ông cha hồ hởi nán lại chờ con chơi xích đu trong sân trường mẫu giáo. Những ông cha lo âu ngồi bên ngoài hàng rào trường thi, xong buổi làm bài mệt nhoài cha đón con bằng cái xoa đầu và hỏi "mệt không ông tướng ?". Những ông cha lủi thủi lấy cùi tay quẹt nước mắt ngày con gái theo chồng.

Ta hình dung vào một bữa không mưa không nắng, trời xui đất xúi có anh nào cũng phải lòng ta, lâm li bảo "anh sẽ từ bỏ tất cả vì em…"(chữ "tất cả" này hiển nhiên là gia đình, vợ con của thằng chả, chớ ta năm mươi tuổi nhăn nheo thì bói đâu ra một chàng độc thân vui tính đẹp trai con nhà giàu học giỏi), nhưng nói vậy thì quả là rủi cho anh í rồi. Ta có cần nhiều vậy đâu. Ta cần một người yêu mà ta nhìn thấy ở anh có tình - người. Không phải là ta quảng đại bao la như biển Thái Bình dạt dào, chỉ là cái thời vàng thau lẫn lộn này, ta dựa một điều gì đó để tin.

Dù ta chẳng nhận được nhiều…

Đành vậy….


..

ẤU THƠ TƯƠI ĐẸP

Nguyễn Ngọc Tư

."Những đêm như thế này em cũng không ngủ. Em sợ khi mở mắt thức dậy đã nhìn thấy mẹ em, mặc cái áo mẹ mua trong lúc vắng em, ra mở cửa. Vào nhà, em thấy một đôi giày đàn ông xa lạ. Và cái đèn ngủ màu đỏ của em mẹ đã thay bằng thứ ánh sáng xanh tái. Có cái tủ mới trong bếp. Một vài đĩa CD mà em yêu thích thì mất. Em lạc giữa nhà mình và mất một nửa thời gian bên mẹ để làm quen lại..."



Đó là chuyến tàu cuối hạ. Người cha bước vào buồng trước, thằng con có đôi mắt tối và ướt của cha bước theo sau, nó quảy một balô nhỏ căng tròn, đầu của một siêu nhân với chiếc mặt nạ ló ra khỏi dây kéo.

Cha na cái vali, dường như cũng nặng. Trong lúc xếp hành lý xuống gầm giường, người cha hơi càu nhàu: "Chỉ vài tháng là trở vô rồi, xách đồ theo chi dữ vậy Sói?". Thằng bé tên Sói trèo lên giường phía trên, nó nói: "Kiếm băng khác phát đi cha, tua đi tua lại câu này hoài con nghe chán chết". Người cha cười khì, vai rúc rích: "Cái thằng...".

Em nằm sát trần tàu, ở cái giường mà nhiều người bất đắc dĩ mới chịu lấy vé chui lên. Họ thấy ngộp trong cái khoảng không gian quá hẹp, rủi mũi ai cao đụng trần là cái chắc. Nhưng em quen rồi, em thích giường này, thích cái chỗ không ai nhìn thấy mình, còn em thì nép ở trên cao, vô tư nhìn thiên hạ.

Tàu rời ga đi về phía cha em. Thằng nhỏ Sói chắc vẫn thường ngược xuôi trên những chuyến tàu, nó nằm bẹp, không thèm ngóc đầu nhìn cảnh vật ngoài cửa sổ. Em cũng vậy, có gì mà coi khi đêm đã nhấn chìm mọi thứ, đã nuốt chửng tất cả vào lòng mình. Nhìn thằng Sói này sướng hơn, vì nó có đôi mắt buồn quá, tưởng như té vô đó thì không mong lội lên. Nó đang nằm gác tay lên trán, con nít mà nằm kiểu đó thì cách gì cũng không hợp.

Người cha ở giường dưới nói vọng lên: "Lần này cầu trời tàu chạy đúng giờ. Mẹ Sói khỏi phải cằn nhằn".

- Con trông tàu càng trễ càng tốt. Con ghét mấy con chó quá. Lần nào vô nhà tụi nó cũng sủa nhoi hết - thằng Sói nói, mặt nó lộ vẻ chán chường. 
- Thì tại con mau lớn quá, chó nhìn không ra.
- Con là chủ cái nhà đó mà chó coi thua khách.
- Khách nào?
- Cha hỏi làm chi, khách của mẹ thì mắc mớ gì cha.

Thằng nhỏ xẵng giọng. Người tên Cha lại cười trừ. Căn buồng trở lại im lặng, dãy giường bên kia, chỉ một ông già lặng lẽ đắp khăn ngủ khò. Thằng nhỏ lại gác tay lên trán:
- Về kỳ này con mua thuốc chuột thuốc chết mấy con chó.
- Chơi gì ác vậy?
- Đâu có chơi.
- Tội nghiệp tụi nó.
- Cha rảnh dữ ha, đi tội nghiệp mấy con chó.

Những cuộc trò chuyện đi theo một nhịp điệu đều đặn, chỉ vài ba câu qua lại thì thằng Sói sẽ vặc lại cha nó bằng cái giọng gay gắt, vóng cao. Sau đó là sự im lặng của người cha mang tính chất dàn hòa, thua cuộc. Em thò đầu nhìn xuống, và thấy đúng thật thằng nhỏ không nói chơi, mắt nó vằn lên những tia giận dữ, gương mặt tối sầm.

- Mõm của mấy con chó sẽ sùi bọt mép.
- Nghĩ đâu ra trò đó ghê vậy Sói? - Người cha nhổm dậy, vói lấy gói thuốc lá.

Sói cười cay độc: "Ai biểu tụi nó sủa con". Điếu thuốc trên tay cha bỗng dưng run rẩy, ông kẹp nó giữa hai ngón tay dường như tê dại đi rồi. Ông day nhìn ra cửa sổ, qua tấm lưới chắn là màn đêm mù mịt. Thằng nhỏ Sói dường như vẫn mải mê đuổi theo cái ý nghĩ bóp nghẹt tiếng sủa của những con chó khi nó trở về nhà, nên nằm bất động.

Thằng nhỏ Sói này giống hệt em hồi trước. Dù nhà của cha em không có chó, nhưng mỗi lần về là thêm một người phụ nữ bước lại vuốt tóc em, hỏi: "Nhiên phải hôn nè? Nhiên năm nay bao nhiêu tuổi? Nhiên thích ăn gì cô chở đi". Em nhìn chằm chằm vào cái miệng nũng nịu âu yếm của cô ta, tỉnh bơ: "Muốn ăn thịt cô quá hà”. Cô nào xấu số nói thêm: "Con thích gì cô cũng chiều" sẽ nhận được một câu trả lời không chờ đợi: "Cô uống thuốc chuột chết đi, con thích vậy". Người phụ nữ khựng lại, lùi hai ba bước, gượng gạo cười, kêu cha em: "Anh ơi anh, bé Nhiên nói chuyện dễ thương ghê”. Sau đó, cô bỏ giọng thẽ thọt, ra vẻ lo lắng: "Coi bộ bên đó không quan tâm con gái lắm, anh à”. Cha em cười: "Chuyện của bên đó, mình xen vô làm gì”.

Em ở với cha suốt mùa hè. Khi còn một tuần nữa tựu trường, cha lại đưa em đi, đôi khi bằng xe hơi của cha, nhưng thường thì đi tàu. Cha em nói một mình ông lái xe về thì đường dài và cô đơn lắm. Có lần, không gọi điện thoại được cho mẹ, tiễn em tới cổng thì đến giờ cha phải quay lại ga, và trong lúc đoàn tàu chuyển bánh ngoài kia thì em vẫn loay hoay với xâu chìa khóa. Không chìa nào mở được cánh cửa. Em ngồi đợi dưới mưa tháng tám, mẹ về, mẹ la lên, trời đất ơi, mẹ đi suốt, khóa cũ thấy không an toàn nên mẹ thay khóa mới. Em đá cái ổ khóa đó văng xuống cống, sưng vù mấy đầu ngón chân, mẹ giễu cợt: "Chà, không biết bên đó dạy làm sao mà mỗi lần về chị lại cộc cằn không chịu nổi".

Thằng nhỏ Sói này cũng trên đường về với mẹ. Ở đó có những con chó không còn nhớ hơi chủ nhỏ. Và chúng sẽ chết. Nếu mười ba, mười bốn tuổi mà âm mưu dập tắt một hơi thở, dù là của chó thì cũng chẳng hợp chút nào. Dường như người cha cũng đang sắp lại chuỗi suy đoán như em, mặt ông phảng phất lo âu, môi đã máy mấy lần nhưng không cất thành lời. Hồi lâu, hết điếu thuốc rồi dụi cái tàn vào miệng chai nước suối, người cha nói:
- Về nhớ điện thoại thường thường nghen. Nhưng đừng điện lúc nửa đêm.
- Sao vậy? Lúc đó cha mắc ôm bà nào hả?
- Cái thằng... - Người cha gắt lên - nói bậy riết rồi quen.

Thằng nhỏ Sói cười hề hề, răng nó nhọn hoắt: "Nói tầm bậy tầm bạ trúng tùm lum tùm la". Người cha cũng gượng cười theo, ông nằm xuống, vói tay tắt đèn. Vào cái lúc sắp xa con chín tháng liền, cha bỗng dưng thấy cuộc sống của con như vầy không bình thường, muốn bù đắp cho con. Cha kéo con gần lại bằng những câu chuyện dịu dàng, nhưng con thì đẩy cha ra, bằng mọi giá, bởi con không muốn khóc khi xuống ga của mẹ. Em biết.

Thằng nhỏ Sói kéo tấm ra mỏng của tàu lên cổ, cả gương mặt nó chìm vào ánh sáng lờ mờ. Nhưng thằng nhỏ Sói không ngủ, vẫn còn hai cái hố thẳm sâu biền biệt, mở trâng tráo. Những đêm như thế này em cũng không ngủ. Em sợ khi mở mắt thức dậy đã nhìn thấy mẹ em, mặc cái áo mẹ mua trong lúc vắng em, ra mở cửa. Vào nhà, em thấy một đôi giày đàn ông xa lạ. Và cái đèn ngủ màu đỏ của em mẹ đã thay bằng thứ ánh sáng xanh tái. Có cái tủ mới trong bếp. Một vài đĩa CD mà em yêu thích thì mất. Em lạc giữa nhà mình và mất một nửa thời gian bên mẹ để làm quen lại.

Mùa hè ở nhà cha thì ngắn hơn, và hầu như em chưa kịp quen gì thì cha đã gọi điện đặt vé tàu tiễn em đi. Thằng nhỏ Sói đang thao thức dưới kia cũng không khác gì em. Lúc nhân viên tàu đi bán thức ăn đêm, người cha mua hai tô cháo gà. Thằng nhỏ Sói cười kha kha kha, nói, cha muốn con ăn gà để nổi mề đay cùng mình hả? Người cha hơi bực: "Ông con ơi, sao không chịu nói sớm". Sói thản nhiên, tưởng cha biết lâu rồi.
Người cha cắn môi. Ông trợn trạo húp vài muỗng rồi bỏ ngang, hút thuốc.

Chuyến tàu cuối hè bỗng trùng trình giảm tốc độ, tưởng như cái buồng phổi đang xám lại kia quá nặng nề. Tàu vào ga tỉnh lẻ.

Người cha rủ thằng nhỏ Sói xuống ga. Sói im lặng, như đã ngủ say rồi. Cha xuống một mình, ông phải mua thêm vài gói thuốc lá nữa, trong một đêm quá dài của năm này. Nhưng thằng Sói tụt xuống sàn, dán mắt nhìn qua ô cửa. Những cái đèn neon xanh xao đang soi những hàng quán ngái ngủ, những đứa trẻ bán dạo thoát khỏi cơn mộng du lanh lảnh rao mời rồi khi tàu lăn bánh, chúng lại tiếp tục lờ đờ vừa đứng tựa vào tường ngủ ngây ngô. Thằng Sói đứng nhìn cho đến khi người cha quay vào, ông hỏi: "Ủa, không ngủ sao?".
- Chừng này mà ngủ gì?
- Gần mười hai giờ rồi còn sớm sao ông con?
- Con đâu có ngủ giờ này.
- Hèn chi toàn điện thoại lúc giữa đêm. Con thức chi khuya vậy?
- Thức để suy nghĩ... Mà, cha hỏi nhiều quá...

Thằng nhỏ Sói bỏ lửng câu nói, bứt ngang cuộc trò chuyện, trèo lên giường. Nó không bao giờ để người cha nhìn thấy khuôn mặt mình, đôi mắt mình. Nó luôn quay lưng và nói. Cúi mặt và nói. Ngó bâng quơ và nói. Người cha ngồi dựa vào vách tàu, xé mở gói thuốc mới. Đốm lửa lại xập xòe trên môi.

Chiếc tàu đi vào vùng gió cát, rùng mình suốt vì những cơn lạnh buốt. Thằng Sói đã ngủ, nằm co như dấu hỏi, như con tôm luộc chơ vơ trên cái đĩa lớn. Cô độc. Người cha cũng ngủ, cái đầu lọc thuốc còn bẹo dính bên mép. Em không còn gì để nhìn, nhưng không chợp mắt được. Em luôn thức trắng trên những chuyến tàu.
Em sợ bỏ lỡ những bình minh, cái khoảnh khắc mà người ta tỉnh dậy, tan chảy theo cơn lười nhác và tuyệt vọng, họ đã vĩnh viễn làm mất ngày hôm qua, và không có cách gì giữ lại ngày mới này. Thằng nhỏ Sói nhìn quanh quất, bất giác nó ứa nước mắt ra. Để che giấu điều đó, nó tụt xuống đi rửa mặt, nó chao đi trên con tàu trùng trình, tiếng bánh xe sắt nghiến vào đường ray buốt nhức.

Người cha ngồi dậy, không thấy Sói đâu thì hơi hoảng, bươn ra cửa, dáo dác. Nhác thấy bóng thằng nhỏ Sói quay vô, người cha kêu lên: 
"Sao không kêu cha?". Sói dửng dưng: "Mặt ai nấy rửa, cu ai nấy cầm, lâu nay con làm được mà”. Người cha vò tóc, dường như vẫn chưa dứt khỏi cơn mơ, ông khẽ cụng đầu vào thành tàu.. 
Giữa bữa sáng, người cha nói: "Tại chiêm bao thấy con đi lạc nên mới quýnh". Thằng nhỏ Sói ngoáy mấy sợi mì quấn vòng quanh chiếc đũa, nó gật gù: "Cha để lạc thì con mới lạc". Em ngồi xếp bằng, ngó mấy cái xoáy ngựa trên đầu thằng nhỏ Sói, và nghĩ thằng nhỏ này đã đi lạc lâu rồi. Điều đó gần như chắc chắn, vì em chính là thằng nhỏ Sói, giây phút này. Thấy ngạc nhiên và kỳ lạ, thấy không chấp nhận được khi người lớn bắt đầu tìm kiếm mình khi đã rời khỏi họ quá chừng xa.

Tàu lại vào ga. Lần này tàu sẽ dừng hẳn hai mươi phút. Hành khách tuôn xuống và đùn lại những hàng dài trước cửa những phòng tắm. Qua tấm lưới chắn, em nhìn thấy người cha chen đẩy thằng nhỏ Sói vô tắm trước. Ba phút sau nó đi ra với cái đầu rỏ nước long tong, cầm cái túi để người cha bước vào. Em vẫn thường xem cảnh chen chúc tắm táp như trò ảo thuật, người ta nhàu nhĩ bước vào và tươi mới, phấn khởi khi trở ra. Nhưng bây giờ thì em bận nhìn thằng nhỏ Sói, nó ôm cái balô nhỏ rúm vào người vì sợ kẻ cắp, đi rà theo mấy quán hàng. Nó dừng lại trước một gia đình đang ăn cơm không biết sáng hay trưa bên hàng hiên của nhà ga. Một đứa trẻ nằm gối lên đùi người mẹ, đầu đứa trẻ khác lại gối lên bụng đứa kia. Họ sẽ hát vài bài khi chuyến tàu ngược về phía mẹ em ghé lại ga này lúc xế chiều.

Em biết họ. Nhưng em không chắc thằng nhỏ Sói có biết, bởi nó cứ đứng nhìn, em chỉ thấy cái gáy của nó với sợi đuôi rùa im phắc. Cả người Sói thả lỏng, balô được xách hờ bằng mấy ngón tay buông lơi. Hồi lâu, Sói quay lại nhìn về phía tàu, và đôi mắt nó xuyên qua khoảng sân ga rộng làm vạt nắng xanh xao. Hay có cục mây bay ngang đầu mà em không thấy? Rồi Sói quay đi, nhòa vào dòng người. Cái dáng gầy gò với chòm tóc nhuộm vàng rốt cuộc chỉ còn trong trí nhớ của em.

Người cha trở ra, ông ngó quanh rồi thong thả lên tàu, giấc mơ kỳ dị lạc mất con đã bị nước giội khuây khỏa. Chỉ khi tới cửa buồng, người cha mới hơi chột dạ, hỏi thăm ông già, mà giọng đã có phần run: "Chú Hai có thấy thằng con cháu lên đây không?". Ông già lắc đầu. Người cha quay ngoắt xuống sân ga, gào tên thằng Sói trong khi mấy cái loa thông báo tàu sắp rời đi. Chân người cha gần như không chạm đất, cả người ông lướt đi giữa dòng người. Cầm điện thoại rướn người nhìn vào căn buồng trống trải, người cha lạc giọng: "Thằng Sói mất rồi... Alô. Mất. Không phải hành lý. Thằng Sói... Cô vừa ý chưa? Dẹp đám cưới của cô giùm tôi...".

Người trong mấy buồng chung quanh cũng túa ra, nháo nhác. Ông già chặn một nhân viên của tàu ngang qua nhờ tìm giúp thằng bé. Rồi ông già bồn chồn ngó xuống sân ga đã nhợt nhạt bóng người: "Trời đất ơi, tàu sắp chạy rồi, không biết tìm thằng nhỏ kịp không đây?".

Em biết là không. Thằng nhỏ Sói sẽ tan biến như chưa từng có trong đời. Nó xuống một ga không có bầy chó sủa khi nó về nhà của chính mình, một ga không có những người phụ nữ biết chính xác cái quần cộc của cha nó nằm ở đâu trong lúc nó tìm loay hoay.

Em thì mãi mãi ở lại con tàu này bằng một vốc thuốc ngủ vun vén ở mỗi tiệm thuốc tây một chút. Nên em hoàn toàn tôn trọng sự chọn lựa của Sói.


GIẤC MƠ CON (CÓ ĐÈ NÁT ?) CUỘC ĐỜI CON

Nguyễn Ngọc Tư.

."Ước mơ tự bản thân nó đẹp rồi, không có ước mơ xấu, lại càng không có ước mơ sang, ước mơ hèn..."

........

Một phong tục kinh điển khi đứa trẻ thôi nôi là người lớn bưng cái rổ lại trước mặt nó để nó chọn… nghề, để coi nó sẽ cầm món nào trong đó, gương lược, kéo, viết, cây búa, cuốn sách hay là cục đất. Một câu hỏi gần như… kinh điển của các ông ba bà mẹ, khi đứa trẻ biết chuyện trò ríu ran, rằng sau này con thích làm nghề gì. Chiều qua, trên đường từ trường về, đứa trẻ hớn hở khoe, mai mốt lớn lên con đi bán xôi gà. Bán xôi gà thì sẽ được ăn xôi gà đã đời luôn.

Má nó nghe buồn, bán xôi gà dãi nắng dầm mưa, suốt ngày long đong ngoài đường phố, vui sướng gì hả con ơi ?

Bà nội nó nghe buồn, cứ ước trong nhà có đứa làm bác sỹ, không thì làm thầy giáo cũng được, ra đường trẻ nít nó kêu thầy ơi thầy à không oai sao ?

Ba nó nghe buồn, đời ba lắt xắt bán buôn, mong có con cho làm cán bộ nhà nước, giàu thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sống ổn định, không lo bữa no bữa đói.

Đứa trẻ chín tuổi, không hiểu tại sao người lớn lại tiu nghỉu khi nghe dự định của nó. Với nó, mọi mơ ước đều bình đẳng với nhau, vui như nhau, không phân biệt thấp cao. Bạn nó có đứa thích lái máy bay bay lên trời. Có đứa đòi tham gia đội đặc nhiệm siêu nhân. Có đứa thích làm công an bắt cướp. Nó chọn bán xôi gà vì công an, phi công, hay siêu nhân gì thì xong việc rồi cũng muốn ăn xôi gà.

Cũng may là có bà ngoại là vỗ tay cười mừng, bà nói cháu bà mơ ước bán cá bán rau bà cũng vui. Ước mơ tự bản thân nó đẹp rồi, không có ước mơ xấu, lại càng không có ước mơ sang, ước mơ hèn. Bán xôi gà, hay làm giám đốc ngân hàng thì cũng hồn hậu đáng quý như nhau khi chúng vẫn còn nằm trên mảnh đất mang tên mơ ước. Bán xôi gà cũng có cái hạnh phúc đặc biệt của bán xôi gà, bà ngoại nói tỉnh bơ.

Như bà ngoại đã từng mơ ước làm họa sỹ truyền thần nhưng suốt đời gắn bó với nghề may áo bà ba, vui vẻ thấy người ta đẹp lên nhờ bàn tay khéo léo của mình.

Như chú kia biết đâu đã từng ước mơ làm kỹ sư, nhưng lẽ gì lẽ khác, chú ấy đi bán cơm chiên. Sáng nay ta đói bụng quá và ta nhớ tới chú.

Như chị nọ biết đâu đã từng mơ làm hoa hậu, nhưng cuối cùng chị đi bán dừa tươi, và ta luôn trông ngóng, chờ đợi chị đẩy xe dừa ướp lạnh trong cái nắng lửa tháng Tư tuôn ngui ngút.

Như anh kìa biết đâu đã từng mơ làm bác sỹ, nhưng cuộc đời đưa đẩy khiến giờ anh an ủi những thương tổn của con người theo kiểu khác, anh làm công nhân trồng cây, trồng hoa, tỉa tót, tắm tưới chúng xum xuê trên những ngã đường.

Và khi ta thèm một tô bún riêu, cần một cái chổi rơm, muốn sơn lại mảng tường cũ… luôn có người sẵn sàng chờ để làm những công việc đó. Họ có thể đã từng mơ ước làm giám đốc, chủ tịch, hay chỉ giản dị, “muốn bán bún riêu để ăn bún riêu cho đã đời luôn…” .

Ngoại nói hay ho như trên báo, dù vậy, cả nhà vẫn buồn. Họ hy vọng thời gian sẽ làm thằng nhỏ thay đổi ước mơ, trẻ con vội thèm mau chán mà. Và một bữa nhân dịp nép bên lề nhường đường cho đoàn xe công vụ có còi hụ đi qua, thằng nhỏ nói lớn lên con muốn làm bộ trưởng, làm bộ trưởng oai thiệt oai như cái bác ngồi trong xe kia.

Lần này thì cả bà ngoại cũng buồn, bà ngoại sợ thằng cháu theo đuổi tận cùng hiện thực hóa ước mơ đó, nó sẽ làm ảnh hưởng, biến chuyển số phận của hàng trăm, triệu con người. Một chữ ký, một cái phẩy tay, một lời nói lơ đãng vô tình, một sơ sót nhỏ của nó cũng làm vất vơ ngơ ngác một đám đông. Họ sướng thì không nói gì, nhưng nhiều khi thằng cháu bà làm họ khổ…

Bà ngoại hy vọng nó lại quên mau, để mà ước mơ giản dị như năm trước.


NHỮNG MÙA TRĂNG ƯỚT

Nguyễn Ngọc Tư.

Truyện ngắn.

.

Sanh cùng tuổi Nhêm, xuống tóc thọ giới cùng một ngày, lúc loay hoay vận y cà sa, Sanh bất ngờ thò tay vào sờ soạng giữa hai đùi Nhêm rồi cười tí tởn, “Nhỏ xíu. Vậy tui làm anh nghen”.

Nhêm đỏ mặt, gật đầu, vì Sanh khôn ngoan, dữ dằn và già dặn hơn. Những đứa trẻ như Sanh luôn già trước tuổi. Cha hứng nước thốt nốt rơi từ ngọn cây xuống đất gãy cổ, mẹ nó đi cõng hàng lậu thuê qua biên giới, chết đuối giữa dòng nước lũ, chỉ một năm sau. Sanh tựa cửa nhìn những người thân mình bước đi vào sớm mai và cũng trong những buổi sớm mai ứa nắng trên đồng, họ về bằng chiếc cáng với hơi thở đã tắt. Sanh sống với chú. Nhà chú cũng nghèo, thím chia thức ăn cho con mình trước, tới Sanh chỉ còn miếng cơm cháy với chút nước cá kho. Sanh vào chùa để “kiếm ăn”, như lời nó nói, là chọn lựa giữa đói triền miên và đói nửa buổi.

Tui còn cha mẹ đâu mà tu báo hiếu, Sanh nói thẳng. Vào những buổi chiều đói rã rời, long đầu óc, đã có lúc Nhêm rủ Sanh lén lút ăn cái gì đó, Sanh lắc đầu, tui phải giữ giới để trả ơn buổi sáng và trưa Phật cho tui ăn no. Và Sanh để mặc Nhêm lăn lộn với cái bụng trống rỗng cồn cào, nó ngáy pho pho. Đói cũng là một thói quen của Sanh, từ tuổi lên mười.

Nhêm thì nghĩ mình không bao giờ có thể quen được những cơn đói buổi chiều tà. Khi nhà hàng bên kia đường bắt đầu có khách. Gió từ mé biển cứ đòng đưa mùi thức ăn trên đầu, làm nó nghẹt thở như thể đó là dây thòng lọng. Cái vòng rào loang lổ nước sơn và cánh cổng rơi vài mảng gạch không thể chặn lại mùi dầu cháy tỏi trong chảo. Sanh nhìn Nhêm suốt buổi tối cứ thều thào nhỏ dãi, nó giễu cợt, “Nhắm có ở chùa được tới năm sau không, ê ?”.

Nhưng Nhêm đã ở chùa ba năm. Thời gian đủ để nó bình tâm, thôi quay quắt trước những ngọn gió trần tục ban chiều. Ba năm cũng đủ cho những nhà hàng, quán ăn phục vụ khách du lịch kịp quây kín, như bóp nghẹt ngôi chùa. Hành trình khất thực có chút thay đổi, Sanh và Nhêm không còn đi trên lộ nhựa, dọc bờ cát ven biển, dưới những hàng cây thốt nốt im lìm. Phum sóc đã dạt xa lên đồng, co cụm gần chân núi Cóc. Và những thức ăn mà bà con dâng thường không có những mùi thơm của những quán xá bên đường.

Nên thỉnh thoảng, khất thực xong, bọn Sanh vòng về con đường bắt đầu ướp nắng để thưởng thức sự vương vất của những món ăn xa lạ. Các cô gái với những bộ trang phục buông tuồng trễ nải tụm lại ngó hai nhà sư trẻ cười cợt, “Lục ơi, tu chi cho khổ vậy, về nhà ôm em sướng hơn nhiều…”. Nhêm cúi đầu bước đi, chân líu ríu. Sanh ung dung đằng sau, mắt lại đầy giễu cợt, “Thấy chịu không nổi thì về nhà đi, Nhêm”.

Lần về thăm nhà gần nhất, mẹ Nhêm cũng nói vậy, sau khi chắp tay vái nó ngoài sân, “sư về nhà luôn đi, ba năm rồi còn gì…”. Giọng bà mỏng, ríu dần lại khi cha nó bước ra, cha muốn nó tu đạt tới tỳ kheo, muốn nó được cả sóc kính nể và trọng vọng, điều mà cho dù có nhiều đất ruộng và trâu, cha Nhêm cũng không có được. Ông đành đặt hy vọng vào Nhêm.

- Na Thi vẫn chưa về đâu - Cha nói.

Cha biết cách để Nhêm tự nguyện ở lại chùa, học kinh kệ. Na Thi chưa về. Cô nhận lời phụ bán quần áo cho thím A Phò khi Nhêm vào chùa được hơn năm. Trưa cuối gặp nhau bên hè, đá chân vào đám cỏ mần trầu, cô bần thần vuốt mãi mớ tóc xoăn tít, Nhêm đi rồi em ở lại đây buồn lắm, ngang qua nhà Nhêm em nhớ quá. Em đi vài năm em về, lúc đó Nhêm cũng hoàn tục rồi. Ngoéo tay, ngón tay cũng run, nóng bỏng. Rồi Nhêm lại khăn gói tới chùa xa, không gặp Na Thi lần nào, về nhà thấy mẹ Na Thi buông nón chắp tay lạy đằng xa, bà nói ngay, Na Thi có về, nó hỏi thăm sư có khỏe.

Trong lúc Nhêm trông Na Thi về thì biết đâu Na Thi cũng chờ đợi nó, ý nghĩ đó làm những câu kinh Phạn cứ vuột khỏi môi, trôi tuột. Lục Cả hơi buồn. Vài đệ tử nhập thế, chùa chỉ còn Lục Cả, Nhêm và Sanh. Hai sa di cứ loay hoay với những bài tụng sơ đẳng nhất, nên Lục Cả cô đơn với những kiến thức Phật pháp sâu sắc, bao la, cô đơn với những pho kinh thư đồ sộ. Ông hầu như không kỳ vọng vào đám trẻ, một vô thần, níu Phật để trốn chạy cái đói, cái ghẻ lạnh, một ngóng mãi phía cổng chùa.

Khuôn viên chùa rộng mênh mông, người ít, mà lá cây rụng vô kể, cỏ cũng nhiều. Suốt ba tháng nhập hạ, sư trẻ dường như chỉ tụng niệm và làm cỏ. Cỏ lớn nhanh, mãnh liệt đến nỗi họ phạt cỏ đằng trước thì sau lưng đã lún phún mầm xanh. Tưởng tượng, chỉ một tháng họ không cầm dao làm lụng, cỏ sẽ vươn tận thềm chính điện, lút đầu người. Vậy nên lúc cắm đầu thổi lửa vào đống cỏ khô, Sanh nhằn, sao mà tui ghét trời mưa quá.

Nhêm cũng ghét. Giữa lễ nhập hạ cho tới xuất hạ, chỉ là những cơn mưa dài, lướt thướt. Hai đứa quẩn quanh trong chùa, cắm mặt vô những trang kinh, mắc chán. Sanh học lóm được nghề làm tranh kiếng, nên xin Lục Cả ít tiền mua vật liệu, mày mò làm. Những lúc ấy Nhêm thật sự cô đơn, Sanh bỏ quên Nhêm để cắm mặt vẽ bức chân dung cha mẹ nó. Vài lần Sanh đã ném cọ đi khi phác thảo hình ảnh cha mẹ mình ngồi thảnh thơi, an nhàn trong căn nhà gạch khang trang. Nó dằn vặt vì đấy không phải là chân dung của những người thân, không giống họ chút nào, cả căn nhà, cả nếp áo phẳng phiu, tươi rói. Rốt cuộc bức tranh thờ dang dở, vì trong ký ức Sanh đã không còn lưu giữ những khuôn mặt cũ. Điều đó làm nó tuyệt vọng. Sanh hay rủ Nhêm xách cuốc chim đi làm cỏ ở gần rào sau, từ đó nhìn lên cánh đồng dưới chân núi là những phum nhỏ nằm quẩn dưới chòm cây xanh rì, khói bếp len qua những tầng lá thành những sợi lam mỏng vờn, phai mãi vào nền trời. Thốt nốt dọc theo các con đường nhỏ ngoằn ngoèo vẽ vào cánh đồng những nét cô đơn, vết mực đậm và đầy đặn ở phía này và bắt đầu mỏng vút cuối tầm nhìn. Dưới trăng chiều, vài con trâu quay tít cái đuôi xua những con ruồi xanh lè, to bằng đầu ngón tay cứ chực xông vào. Thấy Sanh níu vào rào, Nhêm hỏi, “Nhớ nhà hả ?”. Dứt mắt khỏi sóc Tà Cóc đang im lìm dưới làn mưa mỏng, quay vào sala, giọng Sanh quạu quọ, “Có nhà đâu mà nhớ”.

Nhêm sợ Sanh, nó có thể rất hiền lành, tử tế, nhưng Nhêm nói điều gì đó nhắc nhớ tuổi thơ buồn bã, và Sanh nổi khùng lên. Nhưng làm sao Nhêm biết chuyện nào buồn, chuyện nào không ? Bởi vậy, hai đứa hay hục hặc nhau vì những chuyện không đâu, thí dụ Nhêm buồn tình lấy hơpâm gõ bài “chim sáo”, hai gáo dừa mới lộp cộp đã bị Sanh đá văng lông lốc, ai mà biết lúc người ta khiêng cha Sanh từ ngoài đồng về, ông chủ lò nấu đường vẫn dửng dưng ngồi gõ hơpâm cho hết bài, rồi mới thủng thẳng phủi đít đứng lên, “Chết rồi hả ? Thôi, tiền còn nợ tao coi như xóa bỏ”. Những chiều Sanh ngồi trước sala, lặng lẽ nhìn bồ đề rụng lá, Lục Cả thở dài, có lẽ ông thất vọng vì nhà chùa không làm lành được những khối tổn thương trong lòng Sanh, cũng như bất lực trước một xã hội tổn thương, những giá trị luân lý đục ngầu bên ngoài cánh cổng.

Ở đó cũng có đám người đang ghét cay ghét đắng mưa rơi. Khách du lịch thưa thớt. Gió biển ướt rượt thổi qua dãy nhà hàng, khách sạn vắng người, những cô gái không lượn lờ ngoài sân nữa mà co cụm trong nhà, hết giũa móng tay tới sơn móng chân, hết tỉa chân mày đến se lông mặt. Rồi sự lười nhác trễ nãi biến mất, họ tản đi khi người đàn bà cho vay tiền góp, lăn cái thân năng chịch vì mang cả ký lô son phấn trên mặt đứng trước nhà hàng tru tréo gọi Lan Huệ, Sầu, Ai ơi. Mấy chục chiếc vòng chất gần đến cổ tay kêu leng keng mỗi khi bà chuyển động.

Nhờ âm thanh đó, cùng với dáng người thấp lé đé các con nợ luôn phát hiện bà từ xa, và họ biến mất. Cô cũng tạt vào chùa vào một bữa âm thanh những chiếc vòng xủng xẻng đã quá gần. Te tái vào ngồi ở thềm sala, cô dáo dác nói, cho ngồi chút chơi nghen. Nhưng mặt cô không có vẻ là chơi, căng ra khi bóng người qua cổng. Sanh mỉa mai, có trốn nợ thì trốn chỗ khác, ở đây là chỗ tu hành. Cô độp ngay, giọng cố kìm lại nên nhỏ mà rắn đanh.

- Ủa, đây là chỗ từ bi mà, mắc gì tôi không được vô. Ừ, trốn nợ đó. Hay là Lục…cho tiền đi, trả nợ xong tôi không ghé đây nữa.

Nói rồi cô phủi đít dợm đứng lên, nhưng mớ âm thanh leng keng vẫn còn quanh quẩn ngoài kia. Cô trùng trình ngó Sanh, “chùa này đâu phải của Lục, mắc gì tôi sợ”. Cô ngồi lại, điệu bộ lỳ ra, vẻ thách thức.

Những ngày sau, cô lại tới. Cô nhận ra một chỗ nương náu an toàn, nơi mà mọi lời mắng chửi rủa sả không vọng đến, hoặc hoặc vói theo một cách yếu ớt. Chùa không hẳn là thiêng liêng với họ nhưng là sức mạnh tinh thần của tộc người. Ai cũng biết điều đó. Họ đã chứng kiến những cái sroc nghèo xơ xác, những ngôi nhà cột cặm trống trước trống sau nhưng ngôi chùa thì luôn luôn rực rỡ. Đó là lý do Nhêm ở đây, cha muốn nó là một con người rực rỡ. Đó là lý do Sanh ở đây, nó không bao giờ đói dưới sự rực rỡ này. Đó là lý do cô ở đây, cộng đồng người trong sroc kia sẵn sàng thấm máu vào áo mình để giữ cái rực rỡ tồn tại trong thế giới đức tin của họ.

Cũng không tìm được lý do khác cho việc cô gái lui tới chùa. Cô chẳng hề yêu thích ai ở đây, cái cách nói chuyện khinh khỉnh, sấn sổ, ngạo ngược của cô nói lên điều đó. Nhưng Lục Cả luôn bất an, ông luôn sai sư trẻ làm lụng mỗi khi cô nhẩn nha lại. Và ba tháng hạ của năm mười bảy tuổi, họ đã làm rất nhiều việc, lợp lại mái sala, sơn một số chi tiết trong chính điện, cuốc đất mảnh vườn sau để gieo cải, quét lá khuôn viên chùa. Cô luôn lẻo đẻo đi theo, hỏi những câu ngớ ngẩn, thí dụ, sao không đốn bỏ cây bồ đề luôn để khỏi quét lá cho mắc công ? Sao bức tranh này không sơn màu xanh mà là màu vàng ? Sao nền chính điện cao dữ vậy ? Lục Cả nhiều lúc cũng buồn cười, ông nói, tụi tôi làm không mệt bằng nghe cô hỏi. Cô rụt cổ cười. Nhêm cảm giác, nếu bóc mảng son phấn ra, mặt cô sẽ lành và trong như em gái nó.

Chắc cô cũng bằng tuổi ấy, mười sáu, hoặc nhỏ hơn. Sanh hỏi tuổi, cô vặt vẹo, “Lục rảnh quá thì đi tụng kinh, xoi mói chuyện của tôi làm gì ?”. Sanh xúi Nhêm hỏi thăm tên, quê quán cô gái này, Sanh nói “con nhỏ đó ghét sư, tại hôm trước sư đuổi…”.

Nhưng Nhêm cũng không khá hơn, hỏi, cô chỉ vào khoảng sân, châm chọc :

- Cỏ.

Người nhà chùa xem đó là tên của cô. Cỏ bằng tuổi Na Thi, mười bảy. Đương nhiên là từ nơi khác đến. Lục Cả nói, những đứa con gái làm nghề này chỉ đổi chỗ cho nhau. Con gái ở đây thì bôn ba xứ người mua vui cho thiên hạ bằng đuôi mắt cuối mày, và ngược lại. Chúng làm nên một cuộc nổi trôi buồn bã. Nhêm bỗng liên tưởng tới Na Thi mỗi khi nhìn Cỏ cố che mảng da thịt bằng cách kéo cái áo ngắn ngủn nằm vắt vẻo nửa lưng trên.

Nỗi nhớ Na Thi đã lạt đi rất nhiều, Nhêm áy náy lắm. Sau lễ xuất hạ, trời vẫn còn nhập nhòa mưa. Nhưng bọn Nhêm không bỏ bất cứ buổi khất thực nào, dù là đi dưới mưa. Không hẳn vì những thức ăn cúng dường hai sư có được sau một buổi vòng tay ôm bát, mà vì nỗi nhớ những nẻo đường, hàng cây, bờ đá… Ba tháng quẩn chân vườn chùa, bỗng dưng thấy mọi thứ đều thay đổi, lạ lẫm, và trò đùa của các cô tiếp viên rảnh rổi ngày càng tai quái hơn, có lần qua quán “Duyên Quê”, một cô môi đỏ trút vào bát họ ít thức ăn. Quay lưng đi một quãng, Cỏ lao theo giằng lấy bát, hắt xuống đất. Mớ thịt đã bị băm nát nằm vãi trên sân. Cỏ hằn học hỏi :

- Thịt rắn đó. Muốn phá giới sao ?

Các cô khác đấm vào lưng nhau cười ngặt nghẽo. Sanh ngó sững cô, cái nhìn ánh lên chút dịu dàng, hàm ơn. Về tới cổng chùa rồi Nhêm vẫn còn ngơ ngác. Nó sợ. Những người không có đức tin sẵn sàng báng bổ đức tin. Nhưng Sanh vẫn thích đi trên con đường đang còng lưng gánh những quán bia, nhà hàng, nên ngày nào nó cũng kéo Nhêm vòng lại. Ngày nào cũng thấy Cỏ ngồi chán chường ở quầy bar trong quán, nét mặt, khóe môi, bàn tay… tất cả chi tiết trên người cô buông lơi, trễ nãi, cảm giác mọi thứ đang rời nhau và trôi đi. Cả nụ cười mỉm khi nhìn thấy người nhà chùa cũng là nụ cười đang trôi vô định. Nhưng hành trình đột ngột thay đổi, Sanh không đi qua đó thêm một lần nào, vì một buổi trưa ngang qua cuộc tiễn đưa, thấy Cỏ đang chèo kéo quấn vào đám đàn ông sắp lên xe, trong cái khói nắng mùa hạ. Mắt còn đậu lại trong khi chân vẫn liên tục bước, sư trẻ thấy Cỏ ngó theo, thoáng chênh chao.

Cô không ghé chùa nữa, vì mùa khô bắt đầu quay lại, khách lác đác đến tắm biển, uống bia. Buổi chiều, sư trẻ đi nhổ những dây mướp đã chết khô trên bờ rào, dáo dác ngó về phía cổng, ai bước vào hai đứa cũng thất vọng thở hắt ra.

Ngày cuối cùng của mùa hạ, người trong sroc mượn sân chùa làm lễ cúng trăng. Cỏ ghé chơi lúc sắp khuya rồi. Khỏi nói Nhêm mừng như thế nào, đến nỗi, nó tự hỏi, gặp Na Thi, nó có mừng được bằng cỡ đó không. Sanh không tỏ thái độ gì, dửng dưng ngậm ngọn cỏ vung vinh trên môi, “ủa, tối nay không ở nhà chơi với tụi nhà giàu?”, Cỏ cười, “mắc mớ gì tới Lục ?” rồi lảng đi, lại gần Nhêm, coi người ta bắt mấy đứa nhỏ ăn cốm dẹp, theo thông tục. Hồi nhỏ, Nhêm cũng được đút cốm dẹp, khi người ta vuốt lưng, hỏi, năm nay muốn gì, nó gần như òa khóc, “mắc tiểu quá, con muốn đi tiểu”. Năm đó nắng dai, lúa bị khô háp trên đồng, hành không đặng củ, cả sroc cứ đổ thừa tại Nhêm.

Giờ thì mấy đứa nhỏ cũng trợn trạo ngốn cốm dẹp và nói thích lúa, thích gạo. Điều đó làm Nhêm buồn cười, trẻ con không thích đồ chơi đẹp, quần áo đẹp thì thôi, lúa gạo mà làm gì. Chắc là cha mẹ chúng đã dạy trước, Nhêm cũng từng buộc phải học thuộc lòng. Chỉ là tụi nó bây giờ khôn ngoan hơn, và không bị mắc tiểu giữa chừng, như Nhêm. Đang kể chuyện vẩn vơ thì sương trên đuôi lá bồ đề rụng xuống trán, Nhêm giật mình.

Không thấy Cỏ ngồi bên cạnh nữa. Sanh đã kín đáo lôi xểnh cô ra phía sau sala, chỗ những dây bìm bìm leo xum xuê trên mái chuồng gà bỏ hoang. Nỗi nhớ, sự ghen hờn, xót xa, niềm kiêu hãnh giày bừa trong lòng Sanh làm nó như mê đi. Cỏ chỉ cười nhẹ, xấp xãi bước theo, vẻ mặt không ngạc nhiên chút nào. Hoặc cô đã chờ đợi điều này lâu, nên chỉ thở cồn cào như một con sóng nhỏ khi tay và môi Sanh bắt đầu uống ngấu lấy cô. Thằng con trai đó đi qua những cơn đói nhưng chưa bao giờ ngưng sống, như cỏ của những mùa trăng ướt.

Nhêm tìm thấy Sanh đang đứng đối mặt với khoảng tường, y cà sa căng tròn, bọc lấy thân thể Cỏ. Cô chỉ còn đôi chân, và khuôn mặt, phần còn lại của cơ thể đã tan biến. Bóng trăng lấp ló chồm vào đôi người lấp ló. Nhêm chết sững và nỗi tức giận nào đó ứa ra bưng mắt, buốt những đầu ngón tay, nó hồng hộc chạy về phía chánh điện, chỗ Lục Cả đang tụng khúc cầu an.

Sanh rời khỏi chùa vào chiều hôm sau, hoàn toàn không có một nghi lễ hoàn tục nào đưa tiễn. Ngang qua quán rượu, Sanh dừng lại chờ rất lâu mới thấy Cỏ ơ hờ bước ra, Sanh chụp níu lấy tay :

- …Đi với tôi nghen ?!

- Đi với Lục thì lấy gì ăn ? - Cỏ hắt tay Sanh, lạnh lùng hỏi lại.

Không biết, ngay việc bây giờ đi về đâu Sanh còn không biết. Có thể đi làm thuê, làm mướn ở một nơi xa xôi nào đó, đào đất, trèo thốt nốt lấy nước, làm cửu vạn hay vác những bộ tranh kiếng bán dạo khắp nẻo đường. Sanh nuốt thất vọng quay đi. Đám con gái trong quán thò đầu ra cửa sổ, nhìn theo cái lưng gù gù như cõng đá, tru lên thảm thiết, trời ơi, Lục đừng đi, Lục mà đi thì tụi tui phải chung tiền cho con quỷ sứ này, phải biết Lục dễ dụ dỗ vậy, tụi này không đánh cuộc… Sanh khựng lại một vài giây, rồi nó gần như bỏ chạy, nó cảm thấy mình tắt thở rồi. Chết trước khi những cơn đói ập đến trừng phạt nó, vì sự bội tín, vô ơn với Đức Thích Ca.

Những ngọn gió cuối mùa Nam còn sót lại đưa tin thắng cuộc của cô tiếp viên đi nhanh. Người đàn bà cho bạc góp hể hả đòi được món nợ cũ, ghé chùa nói với Lục Cả, “Riết rồi không thấy người nữa, chỉ thấy mấy thứ giống người...”, rồi day mắt về phía sư trẻ đang quét lá giữa sân chùa vắng, “may nhờ lục Nhêm tu tập tử tế…”

Nhêm nghe được, cười khan, nỗi buồn cào cấu rát lòng, sao người ra đi lại là Sanh mà không phải nó, sao cô gái đó chọn Sanh ? Hỏi hỏi và hỏi. Trời thì cao và xanh xao.


PHÍA NHỮNG NGƯỜI YÊU

Nguyễn Ngọc Tư.

"Sinh con đầu lòng, em ngơ ngác không biết phải chuẩn bị gì. Tôi cười bảo, chỉ thiếu trái tim bà mẹ nữa, nhưng không sao, em sẽ có nó khi bụng bắt đầu tròn sau áo. Đó không chỉ là một trái tim mạnh mẽ mà còn phải thật dẻo dai, để giữ sống trong những giây phút dằng dặc nhất, những nhịp đập bàng hoàng nhất, những khi đau nhói nhất. Làm mẹ, mà là mẹ Việt, em sẽ phải run rẩy nhiều khi…"


Hù dọa mấy em sắp làm cha làm mẹ, chia sẻ với những bạn đã làm cha mẹ... 
............

Ngay lúc này đây, cái ngăn tủ tôi dành cho em gái đã đầy. Cái chỗ riêng này tôi xếp những những chiếc đầm bầu tôi đã mặc vài ba lần, những tã lót, áo nón… con tôi từng dùng qua, còn như mới. Bắt đầu từ khi em báo tin sắp làm mẹ, lần đầu. Tôi mua cho em cái đĩa người ta dạy chăm sóc trẻ sơ sinh, một cuốn sách viết về những bệnh con nít hay mắc phải. Gần như đã đầy đủ cho cuộc vượt cạn vào cuối năm.

Sinh con đầu lòng, em ngơ ngác không biết phải chuẩn bị gì. Tôi cười bảo, chỉ thiếu trái tim bà mẹ nữa, nhưng không sao, em sẽ có nó khi bụng bắt đầu tròn sau áo. Đó không chỉ là một trái tim mạnh mẽ mà còn phải thật dẻo dai, để giữ sống trong những giây phút dằng dặc nhất, những nhịp đập bàng hoàng nhất, những khi đau nhói nhất. Làm mẹ, mà là mẹ Việt, em sẽ phải run rẩy nhiều khi…

Ngay những ngày đầu tiên, lúc mang con đi chích (tiêm) ngừa, những nhịp tim run rẩy sẽ bắt đầu vì em nghĩ tới những tai biến quanh chuyện này mà mà báo chí cứ một hai ngày lại phản ánh. Những liều vacxin lẽ ra sẽ bảo vệ con em, nhưng lại làm hại đứa trẻ, không biết chừng. Và em sẽ luôn luôn sợ hãi lo âu bởi những lý do cũng gần giống vậy.

Con bệnh, đưa con tới bác sỹ, nhưng em không biết bác sỹ có vì nóng vội mà cho kháng sinh quá liều, có vì mệt mỏi mà bỏ qua dấu hiệu bệnh, để rồi bệnh A chữa B, có vì thu nhập mà tiếc nuối để bệnh kéo dài, để buổi mai bệnh nhân còn quay lại.

Con đi nhà trẻ, em trao con tận tay cô giáo, tay cô mềm lắm, và cô cũng xinh đẹp nữa, nhưng em chỉ biết đến đó, em không biết khi mình ra về cô giáo có tốt với con không ? Cô ấy có yêu con, dạy con múa hát, dịu dàng giúp con ăn hay sẽ cấu nhéo, dọa dẫm, dùng băng keo dán miệng, hay lơ đãng để con chơi với nước, một mình.

Con lên tiểu học, tiễn con tận cửa lớp, em không thể đứng đó mãi, khi quay lưng lại, em chẳng thể nào biết được thầy giáo có dùng thước đánh con, có bắt quỳ xó lớp nửa ngày, đứng giữa sân trường giữa chang chói nắng, và để trả giá cho tính nghịch ngợm, con phải hít đất vài mươi cái, hay bị xách tai ? Thầy sẽ đối xử với con trong công bằng hay yêu hơn những bạn có học thêm ở nhà riêng của thầy, sẽ giúp con ngồi thẳng hay bỏ mặc con lưng cong, mặc cho con đeo kính…

Và những bài học con nhận được ở trường, có khai sáng tâm hồn con, giúp con hiểu biết và mê say khám phá cuộc sống hay mệt mỏi, sợ sệt, chán chường. Em sẽ tự hỏi điều đó khi nhìn thấy những bài học con học, cái cặp sách nặng nề mà con mang, vẻ nhàu nhĩ mụ mị mỗi khi con tan trường về. Trái tim em run lên vì nghi ngại, không biết tại sao nơi mà em tin tưởng gởi gắm sẽ dạy con nên người, lại làm con mệt mỏi đến nhường này.

Giữa muôn trùng vây bủa, chực kéo con ra khỏi vòng tay em, có những hiểm họa em sẽ đề phòng được. Xe cộ trên đường. Những cái bẫy của Internet. Sông nước ao hồ. Cả khi thời tiết bất an, như những cơn mưa đầu mùa, nếu em bọc con đủ ấm, sẽ giúp nó khỏi bị cảm lạnh. Nhưng hiểm họa đôi khi tới từ những người, những chốn mà em tin rằng sẽ cùng với em yêu thương và bảo vệ đứa trẻ ngây thơ trong veo này, lại làm nó tổn thương. “Ta không đề phòng từ phía những người yêu. Cây ngã về nơi không có vết rìu…”, hai câu thơ này, chẳng phải một hôm nào chúng ta cùng tấm tắc khen ông Hữu Thỉnh viết hay, hay mà buồn, hay vì buồn. Em đã từng nhớ mỗi khi gặp phải lừa dối, phản trắc nhưng em chắc không tưởng tượng được những câu thơ chua xót đó sẽ ám ảnh theo khi em làm mẹ, khi cố bảo bọc và che chở cho những đứa con non nớt.

Bà ngoại chúng ta làm mẹ rất giản dị, bà chỉ sợ bom rơi đạn lạc, sợ chiến tranh, sợ những căn bệnh ban đen ban đỏ, sài đẹn cướp mất con của bà.

Mẹ chúng ta làm mẹ cũng giản dị, chỉ sợ con không đủ no vào những năm cả nước Việt xanh xao bo bo nấu cùng với gạo, con sẽ không đủ sức chống chọi với những cơn sốt xuất huyết, sốt thương hàn…

Tôi, em làm mẹ thì sợ muôn ngàn nỗi. Sợ cả hộp sữa bột thơm tho biết đâu lại chứa những chất độc mang bộ mặt thơm tho. Hiểm họa không chỉ đến từ trước mặt. Sẽ có nhiều lần trong đời, em ước ao lại được gói con vào lòng, mang con theo trên mọi ngả đường, mọi sớm chiều, bởi con vừa ra khỏi tầm mắt mẹ, là bất trắc lẽo đẻo theo.

Nên em, trót làm phụ nữ Việt, sẽ trở thành anh hùng ngay khi đứa con cất tiếng khóc chào đời. Gặp nhau ngay lúc xa nhau, sum họp đúng lúc chia lìa, trái tim mẹ bắt đầu ngơ ngác ngổn ngang, ngơ ngác …


NGỒI BUỒN COI PHIM CON NÍT..

Nguyễn Ngọc Tư.

"Và cái đoàn người đi thỉnh kinh, đoàn người cô đơn, đoàn người đau khổ ấy, có kẻ suýt chết ấy lại hồ hởi lên đường, để tiếp tục bị những thế lực đen tối có xuất thân cao quý dập vùi, hãm hại. Đi cho đủ kiếp nạn, cho thấu hết khổ này đến khổ khác..."

.............

Mỗi năm đến hè là thằng con rủ coi Tây Du Ký.

Hồi nào giờ chưa thấy bộ phim nào mà nhân vật chính xấu xí, lông lá, quái dị, không yêu đương, hẹn hò, không xxx nóng bỏng nhưng lại sống dai như phim Tây Du Ký. Cũng chưa thấy phim nào chiếu miệt mài, trở thành phim “đinh” của mấy đài truyền hình mỗi khi hè lại.

Tụi nhỏ coi hoài không chán. Mình cũng coi hoài không chán. Hồi nhỏ, mê mấy phép thần thông biến hóa nhí nhố của anh chàng khỉ khọt. Chừng mười sáu tuổi mê phim vì ông Đường Tam Tạng đẹp trai (dù không có tóc) và hồ nghi mấy cảnh biến hóa sao hơi… giả. Bây giờ thì biết là nó giả quá chừng, những trò đi mây về gió biến người thành rắn, nhện, biến cây gậy dài nhằng thành chiếc kim giắt lổ tai…

Bây giờ mê Tây Du Ký vì thấy nó… buồn. Yêu quái ít xuất thân từ… yêu quái, mà toàn là con ông cháu cha, vật cưng, thú cưng của mấy ông “ở trển”. Mấy ông này ngộ, nghe méc rồi mà có ông mặt tỉnh bơ, ủa, cái con ấy (hay vật ấy) tui mới thấy đây mà, có ông còn nhào vô đánh khổ chủ vì cho rằng mình bị vu khống. Mấy ông trời (ông, cha) đi bắt mấy ông trời (con) cũng hết sức nhẹ nhàng, thư thái, lại khều khều, “Mi thật là quá lắm nghen…”. Chẳng may chàng khỉ quạu quọ, cằn nhằn, làm mình làm mẩy quá, thì mấy ông trời (cha) cũng đằng hắng rầy lấy lệ, yêu nghiệt, ai cho xuống đây quậy hả ? Mau, theo ta về (Câu này còn có nghĩa, trời ơi, còn chần chừ ở đây hoài con khỉ đó nện cho chết tươi bây giờ).

Và “lực lượng đặc nhiệm phòng chống tội phạm” cùng tội phạm trìu mến ngó nhau, rất chậm rãi, ung dung cưỡi mây về. Khung cảnh cực kỳ thơ mộng, bóng người khuất dần sau làn khói trắng.

Như chưa từng có những bãi xương khô…

Như chưa hề có những oan hồn…

Như chưa bao giờ đau đớn phận con người.

Và cái đoàn người đi thỉnh kinh, đoàn người cô đơn, đoàn người đau khổ ấy, có kẻ suýt chết ấy lại hồ hởi lên đường, để tiếp tục bị những thế lực đen tối có xuất thân cao quý dập vùi, hãm hại. Đi cho đủ kiếp nạn, cho thấu hết khổ này đến khổ khác.

Có lúc ngồi nghĩ, phải mình làm phim này, mình cho mấy anh trong phái đoàn thỉnh kinh diễn thêm chút xíu ở cái đoạn trời (con) được trời (ông, cha) rủ đi… nhậu (ai biết được điều gì xảy ra trên… trời ?), mình sẽ đặc tả vẻ ngẩn ngơ, chua xót tràn ngập trên mặt, tối sầm trong mắt họ, mình thuê chiếc trực thăng bay lên cao để quay đám người cô đơn đó, cô đơn tận cùng, cô đơn đến tuyệt vọng. Lọt thỏm giữa đất trời, nhỏ bé như giun như kiến dưới cái nhìn giễu cợt của người trời. Và anh hùng của mình, chàng khỉ ngang tàng hoang dã của mình, Tôn Ngộ Không tài năng, dũng cảm, thông minh, trung hậu nhưng chiến đấu một cách tuyệt vọng với những bức tường chắn vô hình. Bọn xấu chỉ cần phủ phục liếm tay chủ, là ung dung ở cõi trời. Nhàm chán, buồn tình, lâu lâu xuống trần hại người chơi, rồi về, làm gì được nhau ?

Coi hè này, bỗng nghĩ hè tới Tây Du Ký đến hẹn lại lên. Hè tới, mình thêm một tuổi, ngồi xem phim với con, không biết bật ra được nỗi người nào nữa ?


DIỀU BĂNG CUỐI TRỜI

Nguyễn Ngọc Tư.

."Người ta bắt đầu nuôi mộng điền viên với hy vọng buông bỏ, nghỉ ngơi, giũ sạch bon chen về với thiên nhiên cây cỏ. Bạn bè ông tưởng vậy. Nghĩ lại thì chỉ là giả đò buông, nghỉ. Chăm chút bắt sâu một cái cây để đợi nó ra hoa, ra trái. Nuôi con gà trông nó đẻ trứng. Đãi chim sâu chim sẻ chút gạo là để chúng luẩn quẩn quanh nhà ríu rít cho vui. Vãi mồi xuống ao trông cá lớn mau mau kêu thương lái tới.

Ủa sao mình không khui họng đìa cho bèo trôi đâu thì trôi, cá lội đâu thì lội? Sao mình không làm một việc nào đó mà chẳng thèm kỳ vọng, chờ đợi khát khao thu hái?"

......


Bạn tính sống sao lúc về hưu? Ông nhớ mình nhận được câu hỏi đó trong một cuộc họp lớp. Hồi ấy bọn ông chưa tới bốn mươi, không phải trẻ cũng còn lâu mới già. Nhưng ai nấy đã chớm mệt mỏi, nên toàn mơ giấc điền viên. Người nói sẽ về quê làm trang trại nuôi dê. Người ước mở tiệm sách báo, đồ chơi con nít. Người khoái mua đất vườn, trồng nhiều cây ăn trái tàn lớn để giăng võng nằm chơi. Người mơ khoác balô rong chơi ta bà thế giới.

Câu hỏi xoay vòng và còn ít người nữa mới tới lượt ông. Không cần phải nghĩ ngợi vẽ vời, vì cái viễn cảnh quãng sáu, bảy mươi tuổi của mình ông đã tưởng tượng đến thuộc lòng. Ông sẽ mở một quán càphê nhạc Trịnh dịu dàng trong sân nhà, trồng nhiều hoa cỏ lạ, sáng sáng rải gạo đãi chim trời. Nhàn tản, thư thả mà kiếm đồng ra đồng vô. Chỉ là nép qua một bên cái con đường mưu sinh mà cả tuổi trẻ ông đã chạy mệt phờ chứ không phải rời đi.

Người ta bắt đầu nuôi mộng điền viên với hy vọng buông bỏ, nghỉ ngơi, giũ sạch bon chen về với thiên nhiên cây cỏ. Bạn bè ông tưởng vậy. Nghĩ lại thì chỉ là giả đò buông, nghỉ. Chăm chút bắt sâu một cái cây để đợi nó ra hoa, ra trái. Nuôi con gà trông nó đẻ trứng. Đãi chim sâu chim sẻ chút gạo là để chúng luẩn quẩn quanh nhà ríu rít cho vui. Vãi mồi xuống ao trông cá lớn mau mau kêu thương lái tới.

Ủa sao mình không khui họng đìa cho bèo trôi đâu thì trôi, cá lội đâu thì lội? Sao mình không làm một việc nào đó mà chẳng thèm kỳ vọng, chờ đợi khát khao thu hái? Ông bỗng nghĩ vậy, và khi câu hỏi “làm gì sống qua tuổi già” tới tay mình, ông ngật ngừ nói, “Tôi chỉ khoái dán con diều rồi xách ra ruộng thả chơi. Tôi thả cho nó bay cao thiệt cao, nằm gối đầu trên gốc rạ dòm chút rồi tôi bứt… dây diều kệ nó băng đâu thì băng…”

Hết thảy bạn ông đều kêu trời, “thằng cha lãng nhách…” Lúc đó trong người “có sự say”, ông cũng không biết cái ước ao kỳ cục đó từ đâu tuôn ra khỏi miệng mình. Nhưng nó làm ông chơi vơi lâng lâng, dù ngày sau, tháng sau, năm sau…

– Nhưng tới giờ tôi vẫn chưa thả được con diều đó, cũng sáu, bảy năm rồi chớ giỡn…

Người đàn ông gãi gãi cái đầu trọc bon, cười xởi lởi. Giấc mộng tay không thả diều của mười năm trước là do tôi khơi lại, bởi tôi cũng có mặt trong quán vào buổi chiều hôm đó, cũng âm thầm góp một giấc ta bà cùng hoa cỏ. Giữa đông đúc ồn ã, nghe lóm tiếng được tiếng mất, nhưng thấy người đàn ông tướng tá hì hợm liêu xiêu đứng dậy, oang oang nguyện được… bứt dây diều, tôi suýt chạy qua nhìn cho rõ mặt coi ông này nói chơi hay thiệt. Không thể tình cờ hơn, ngẫu nhiên chỉ là ngồi cùng một quán, nhưng vụ bứt dây diều hẳn gây ít nhiều ấn tượng trong tôi, nên mới nhớ tới giờ. Mới nhận ra ông sư đang lúi húi phơi thuốc trong sân chùa chính là cái người năm cũ, mới buột miệng hỏi :

– Thầy ơi, thầy thả về trời bao nhiêu con diều rồi?

Ông thầy nhễ nhại mồ hôi ngờ ngợ, là cái cô bữa đó chạy tới ngó tôi lom lom đây nè… Ông ngạc nhiên vì tôi còn nhớ nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào khi gặp ông trong vườn chùa với chiếc áo nâu.

Chẳng hiểu tại sao…


CHUYỆN CỤC KẸO - Nguyễn Ngọc Tư.

"Rốt cuộc người ta cãi nhau, vài người bảo em vẫn còn nhỏ quá, em không ý thức, em đã đủ mười tám tuổi đâu, có lý tưởng gì đâu. Em có phân biệt được kẻ thù đâu mà đánh giặc, may lắm, thì em chỉ biết chạy trốn xuống hầm mỗi khi có máy bay. Em chết, chỉ vì em phải theo mẹ, trẻ con thì theo mẹ chứ theo ai ? "

---------------------

"Có người kể tôi nghe câu chuyện cũ này, hỏi ý tôi sao.

Chuyện rằng, có bé lên ba bé… không đi mẫu giáo như lời hát trẻ con hay hát.

Em đi chợ chơi với mẹ. Đó là một ngày chiến tranh vẫn mỏi mòn chơi trò chơi bom đạn, cùng đi chuyến đó còn có bốn người đồng đội khác của mẹ em. Thì lâu lâu cũng đi chợ một lần, chuyện đó bình thường với những biệt động quân, buổi chợ này cũng bình thường, chỉ là tấn công... Ty cảnh sát thị xã Cà Mau.

Để bảo đảm bí mật, bất ngờ, để kịch bản áp sát hoàn hảo, tiếp cận mục tiêu an toàn, mẹ đưa em theo. Một bà mẹ nghèo, lam lũ ẳm đứa con gái nhỏ, gầy gò, nhà quê ngơ ngác giữa xa hoa. Bâng quơ đi đằng sau là một người con gái 21 tuổi xách cái giỏ cũ kỹ đựng khối mìn nặng gần 10kg, nhập nhòa trong đám đông đằng xa nữa là một tổ khác gồm hai người, họ sẽ chi viện khi có tín hiệu. Nhưng những người đi sau chưa qua khỏi khúc đường thì tiếng nổ đã làm rung chuyển thị xã Cà Mau, lẫn trong những thi thể kẻ thù, có mẹ, đồng đội của mẹ và em. Kế hoạch rời đi đã gặp trục trặc vì những sơ suất nhỏ, và họ chọn cho mình sự hy sinh.

Người đồng đội đó, được phong tặng danh hiệu anh hùng, mẹ em được công nhận liệt sĩ, được truy tặng huân chương chiến công hạng Nhì. Bé bị quên lãng trong nấm mồ chung, mang tên mẹ.

Nhưng không có sự lãng quên nào là mãi mãi, một ngày đẹp trời, người ta nhớ tới em. Người ta tự hỏi tại sao không công nhận em là liệt sỹ, người ta này hỏi người ta khác, tại sao và tại sao ? 
Rốt cuộc người ta cãi nhau, vài người bảo em vẫn còn nhỏ quá, em không ý thức, em đã đủ mười tám tuổi đâu, có lý tưởng gì đâu. Em có phân biệt được kẻ thù đâu mà đánh giặc, may lắm, thì em chỉ biết chạy trốn xuống hầm mỗi khi có máy bay. Em chết, chỉ vì em phải theo mẹ, trẻ con thì theo mẹ chứ theo ai ? Buổi sáng hôm đó, em đâu có nghĩ mình đi chiến đấu, mà Tổ quốc là gì, độc lập tự do là gì với đứa trẻ lên ba ? Em chỉ biết má với mình đi chợ, vì lúc thay đồ mới cho em má nói, mình đi chợ chơi nghen, út cưng của má.

Nhưng một số người không chịu, với họ, em là một sinh mạng, chúng ta mang một sinh mạng vào trận đánh chứ không mang theo con búp bê, thú nhồi bông, hay con chó con. Không có bé, tổ công tác đó chưa chắc tiếp cận sâu vào hang ổ kẻ thù, chiến công đó chưa chắc lẫy lừng như vậy. Nếu chúng ta chỉ xem em như là nạn nhân chiến tranh như bao đứa trẻ khác, liệu có thỏa đáng không khi em cùng mẹ đi vào trận đánh có kế hoạch tác chiến hẳn hoi.

Cuộc tranh cãi không kết thúc được vì những cái lý của những người ta. Tôi nghe xong, nuốt nước mắt vào lòng, trợn trạo cà rỡn, nói sao không kiếm nhà ngoại cảm nào thiệt giỏi tìm gặp linh hồn bé, hỏi coi bé thích gì. Tí ơi Nị ơi, Mén ơi Đẹt ơi, con thích gì ? thích là liệt sỹ hay chỉ thích làm nắm tro bụi tan rồi, phiêu lãng trong lòng đất ?

Nhưng linh hồn nhỏ trả lời trớt quớt, kon hít ăn chẹo dùa .

Tạm dịch, con thích ăn kẹo dừa. Bé không trách móc, oán giận, không kể công, đòi hỏi, không kêu lên lỗi tại ai, như người lớn. Chuyện nhỏ teo như… cục kẹo mà người lớn cứ cãi nhau. Thương làm sao những tâm hồn người lớn đã từ lâu tuyệt chủng ngọt ngào.

Cho nên đôi lúc trước trẻ con, có tôi - người - lớn cúi đầu. Lần này thì tôi cúi đầu rất thấp."


ĐI CHỢ CHỢ XA..

Nguyễn Ngọc Tư.
."Khoai mì và bột ngọt khác nhau không chỉ vì chúng là khoai mì và bột ngọt. Chúng khác xuất thân.."

......

Lần chiếc xuồng ra khỏi rạp xuồng lúc trời vẫn còn tối mịt, bà già nghe sương nhểu từ những đuôi lá dừa nước xuống vai mình. Con nhỏ ngồi đằng mũi vít vít cây dầm xuống nước quẩy chủm quẩy chủm, âm thanh hớn hở như nó đang hớn hở: bữa nay bà ngoại cho nó đi chợ. Nó sợ bị bỏ lại, nên dậy theo bà già từ ba giờ sáng. Phụ bà nhúng nước mấy bó ngò gai, húng lủi… lạnh móp cả đôi tay. Mùa chướng sờ đâu cũng lạnh, ờ mà thật ra, là cái gió lạnh đang hiện diện cùng khắp, nó sờ mình.

Chếch bên trời còn một mảnh trăng. Xuồng cứ nhắm bên phải trăng mà đi. Bà già chèo gấp rãi, sợ đụng chợ trưa khó bán mua đã đành, tìm một chỗ ngồi cũng khó. Sương thấm ướt cái khăn rằn đội đầu. Con nhỏ nằm ngủ queo rồi, nằm giữa cà vung trầu và buồng chuối chín bói chim ăn mất mấy trái. Vài chiếc xuồng đi chợ sớm khác đuổi kịp nhau, hỏi han râm ran chuyện lúc thóc, mùa màng. Nghe bên kia nói vô bồ được trăm hai mươi giạ mà nhà tới mười miệng ăn, bà già thở dài thương cảm, như đang thương chính mình.

Bà già cảm thấy hơi lạnh dù chèo mệt, người rịn mồ hôi. Người quê, những cơn lạnh đến rồi đi đôi khi không vì gió. Trời hửng thì con nhỏ bị đánh thức bởi tiếng nhạc phát ra từ dãy nhà cất ven sông. Mới đầu thì nhà họ còn thưa, rồi san sát dần, ồn ả sáng lóa dần.

Đây là lần đầu tiên con nhỏ đi chợ bằng đường sông. Nó nhìn phía sau những ngôi nhà chen chúc nhau nhón chân trên nước nghe ngạc nhiên hết sức. Trông chúng lộn xộn, gần gũi, dung dị như như ở một xó quê nào vậy. Có người bưng gàu mên nước ngồi chồm hổm bên thềm rửa mặt. Có trẻ con cởi truồng tắm sáng. Có ông già chống gậy ra cửa sau tựa vào cây gậy ngó mông lung. Cá khô xỏ xâu phơi trên sào quần áo, những giẻ lau đủ màu sắc giắt gần đó, phơ phất như đuổi chim trên ruộng. Những xô chậu, những lu khạp, những cái võng treo xiên xẹo… Đằng lưng của chợ nhìn thân thiện với người quê, con nhỏ thích.

Nhưng cửa sau thì không phải chỗ bán mua, chợ phải là mặt chợ kìa. Chỗ đó lộng lẫy và sáng loáng làm con nhỏ cảm thấy hai bà cháu mình trở nên nhỏ thó và lem luốc. Dãy nhà lầu bên kia đường cao, đến nỗi bóng chúng ôm hết cái chợ chồm hổm đến nửa buổi sáng thì mặt trời mới chạm vào đôi dép cũ đã vá tèm lem của con nhỏ. Nắng lên, đôi dép xấu xí hơn. Không gian tràn ngập thứ ánh sáng như nôn nả dồn đuổi, như xua người ta về với ruộng vườn xanh bóng cây. Ở đây, mọi thứ đều chói gắt lấp lánh. Cả tô hủ tiếu mà đứa trẻ chợ kia ngồi ăn cũng lung linh lạ thường. Con nhỏ cảm thấy mình dòm miệng đứa kia hơi lâu, tự mắc cỡ ngoảnh đi chỗ khác.

Chợ trưa dần. Bà già vẫn còn mười một ốp trầu trong cà vung. Vài chị mang guốc lóc cóc lại, kêu thím ơi coi như chẵn chục đi, tôi mua hết. Con nhỏ lạ lắm, lạ suốt từ sáng giờ. Nó học lớp một trường làng, sự thật mười một không thể là mười được, hai con số ấy khác nhau. Như hồi sáng ngoại nói nải chuối ba trăm đồng, khách nài hai trăm rưỡi đi cho chẵn. Con nhỏ thấy rõ ràng sự chẵn của khách không chẵn chút nào. Nhưng khách đã dợm bước để chứng tỏ mình cái quyền tối thượng của mình: quyền đi chỗ khác, quyền ngoảnh mặt, quyền được đúng. Bà già chịu thua.

Nhưng bà già không cay đắng, quạu quọ… bà ung dung, thanh thản. Từ hồi bằng con nhỏ bà đã theo người lớn đi chợ, đã được dạy rằng người quê không có quyền định giá món hàng mình làm ra. Và giá của những rau những lúa không bao giờ đứng yên, chúng chạy thót tim theo cơn nắng sáng, mưa chiều. Pin đèn không vậy. Cây kim may tay cũng không vậy.

Con nhỏ rồi sẽ phân biệt được thôi, khoai mì và bột ngọt khác nhau không chỉ vì chúng là khoai mì và bột ngọt. Chúng khác xuất thân. Giờ thì bà già dẫn con nhỏ đi ăn hủ tiếu. Chị bán quán vét hết mấy thứ trên bàn thì vừa tròn tô hủ tiếu, dù nước súp đáy nồi sắc mặn như kho. Bà già chỉ nhá gói xôi và ngồi ngó cháu đang ăn ngon lành, tô hủ tiếu đầu đời của nó. Lấp lánh và muốt, đó là cảm giác của nó về tô hủ tiếu, và khi trả tiền nó nhận ra mình vừa ăn nửa cà vung trầu. Biết nói sao, vừa lảo đảo say vừa ràn rụa cay.

Đường xuống bến đậu xuồng xuyên thấu qua lòng một tiệm tạp hóa, bà già nói nhà này hồi trước ở xóm mình, loạn lạc quá mới tản cư ra đây. Hèn chi gặp nhau cứ nghe giòn chuyện xóm làng đồng áng. Hèn chi họ bày hàng hóa lủ khủ lềnh khênh mà không chút dè chừng những khách quê bao bận lên xuống bến, như thể đã thuộc lòng sự ngay thẳng của nhau. Con nhỏ ngẫm ngợi trong lúc chờ bà già loay hoay mua dầu hôi nước mắm, đường mía, ống khói đèn chong, ống chỉ đen … Tất nhiên bà già không quên chai dầu gió bôi cho đỡ nhức đầu và mấy lọ Tế Chứng Thủy trị đau bụng. Tất nhiên con nhỏ không quên đòi mua đôi dép mủ mới. Thấy bà ngoại lúi húi mở kim tây lấy tiền trong túi trái, con nhỏ biết rằng những món trong vườn sáng nay không đủ đổi lấy mấy thứ lặt vặt này. Bà già vừa bù thêm một phần tiền lúa.

Buổi chợ đầu đời mãi mãi ám ảnh con nhỏ, hai mươi tám năm sau khi nó ngồi nhớ lại, vẫn thấy mình đi chợ về te te lấy sách ra ngồi học, bởi không muốn lớn lên trồng trầu và rau húng lủi. Vẫn nhớ trong tô hủ tiếu đầu tiên mà mình được ăn, có dư vị trầu cay xé họng. Và đi bằng xuồng chèo thì chợ của người chợ xa lắm, rất xa, xa…


THÁNG TƯ

Nguyễn Ngọc Tư.

.

Bao giờ thì cũng là thứ nắng đỏ quạch quánh đặc như có thể nắm một nắm trong tay. Gió lặng ngắt hoặc có cũng phảng phất chút gì như xa vắng thảng hoặc. Vài trận mưa thập thò hệt đứa trẻ thử rưới ít nước lên chảo lửa ngun ngút rồi đâu lại đó, nắng đỏ hơn, ngằn ngặt đến tận cuối chiều, muốn ăn lan cả vào đêm.

Giữa nắng và nắng và nắng gắt gỏng như nhau, người ta hầu như không được chọn lựa. Cứ chịu trận và chờ đợi thứ gì đó chậm chạm trôi qua. Trên đỉnh mùa khô, trời đất đứng trân trân, không khí phập phồng rịn mồ hôi. Cây cỏ lả đi. Mùa rừng cháy. Mùa giáp hạt. Mùa bới khoai. Trẻ con chân trần đi mượn gạo nhà hàng xóm ngang qua những đám sậy cháy xém, tưởng như da thịt cũng bốc hơi. Người lớn khum khum tay cho đỡ chói ngó về phía chân trời, nơi những núi mây xám một hôm nào đó sẽ đùn lên mang mùa màng tới.

Đặc sản của tháng Tư ngoài nắng còn có... phim tài liệu, cũng hôi hổi, ngun ngút những đạn bom, những vùng trời bùng lên cháy loạn. Hồi nhỏ, không hiểu sao tôi mê loại phim này, trong khi đám con nít cùng xóm hoặc thắc thỏm ngáp vắn dài chờ tới giờ chiếu phim truyện, hoặc ra sân chạy chơi. Thành ra buổi đó chỉ có tôi lọt thỏm cùng người lớn, chẳng hiểu mấy, thấy đánh nhau là khoái, cứ níu tay ba hỏi bữa nay bên mình đánh bên nó tới chỗ nào rồi. Màn ảnh vô tuyến rùng rùng những người những xe, những mũi tên màu đỏ chạy về một nơi nào trên nước Việt gầy gò này mà tôi không hình dung nổi.

Những ngày đó thì chú Năm Thái không thấy qua coi ké ti vi. Cái góc bộ ván ngựa nhà tôi bỗng dưng trống trải, vắng thím Năm hay ngồi ngủ gà gật bên cạnh chồng. Hết tháng Tư, họ mới quay lại, thất thần và nặng trĩu như đã đi đâu xa lắm, mới về.

Những thước phim năm qua năm càng thêm lem nhem. Nhì nhằng như có mưa. Xước như gai táo cào trên da thịt. Tôi gần như thuộc lòng những hình ảnh trên đó, dần dần rút ra kết luận trong mấy cái phim tài liệu tháng tư những người cầm cờ hoa chân thường phải giẫm lên áo xống giày dép nón cối nằm lủ khủ dưới đường… Phát hiện ra phim nào thì cũng hùng hồn hối hả từ giọng người đọc lời bình đến nhạc phim đến nhịp điệu phim… Phát hiện ra chú Năm không qua coi truyền hình vì hồi trước chú theo bên nó, mà trên phim người ta gọi bằng giọng rắn đanh là “địch”, “quân bán nước”, “lũ tay sai”... Chỉ trẻ con nhà chú là nhởn nhơ vô tình, lâu lâu lại ngán ngẩm rên lên, “sao bên nó không chịu thua sớm sớm để hết phim cho rồi, để tụi mình được coi “Biệt động sài gòn”, “Ván bài lật ngửa”. Má tôi ngó đám trẻ khét nắng ngậm ngùi.

Ti vi tháng Tư không cho trẻ con nhà nghèo hồi ấy nhiều lựa chọn, chỉ khác nhau ở chỗ nhiều hay ít, chứ kiểu nào cũng trầy xước.

Giờ tôi đã xem thêm nhiều bộ phim tài liệu nữa về sự kiện tháng Tư, với những cách kể khác, góc nhìn khác. Như thể tôi được ngắm bên phải bên trái bức tượng mà mười mấy năm trước khi còn là đứa trẻ chỉ được nhìn chính diện. Những thước phim của các hãng thông tấn nước ngoài sáng đẹp như mới quay hôm qua, như hôm qua chiến tranh hãy còn đang thở dốc trong cái nắng tháng Tư sôi sùng sục. Ngó vào màn ảnh trong veo nhưng cái cảm giác xây xước vẫn chưa bao giờ tan mất. Cảm giác ai đó và cái gì đó lại bị tháng Tư cào rách, không phải trên mặt, mà sâu ở lòng.

Tôi nhớ người hàng xóm bỗng rời rã vật vờ không bởi vì cái nắng tháng Tư ngun ngút. Nhớ những cái phim trầy trụa được đem ra chiếu đi chiếu lại hồi xưa, nhớ giọng người đọc lời bình, trời ơi, chưa bao giờ chùng xuống.


ÁO RÁCH VÀ NẮM BỤI

Nguyễn Ngọc Tư.
."Bây coi coi vầy là mây che phía nào?"

Mây không đứng giữa để đôi bên đều râm mát đều được tưới tắm mà dường như nghiêng hẳn về một phía không một chút giả vờ xuề xòa.."

.................

Hai thằng nhỏ leo qua rào, một đứa bị kẽm gai cào rách toạc áo. Cái vết rách hình chữ L bên hông nó thò ra mảng da đen thùi lùi, đen đến nỗi cảm giác làm thâm kim luôn cái áo màu cam lợt. Xui rủi là tôi cũng có mặt ở đó, và đang chụp hình chúng và chú thích hiện lên trong đầu ngay khi màn trập máy ảnh chưa mở, “qua một hàng rào kẽm gai của resort đang xây dở…”.

Nhưng cái chú thích cùng tấm ảnh dường như đã cháy xém trước ánh nhìn trừng trừng của đứa bé kia. Nó chửi thề ô bô lô a ba la rồi hỏi bộ giàu là giỏi lắm sao ? Bỗng dưng tôi thấy mình cầm máy ảnh là có tội, ăn mặc tử tế là có tội, tôi trắng hơn nó cũng là có tội. Và tôi có tội vì đã đến hòn đảo thiên đường này chơi, nên người ta mới xây cất chỗ nơi đón tôi, nên áo thằng nhỏ rách.

Bây giờ là cuối tháng mười một ta, gió biển thổi bề nào cũng lạnh. Thằng phong phanh ái ngại nói với thằng (đã) phong phanh mà còn rách, má mầy đánh đòn cho mà coi. Tôi nhớ mình hồi xưa trèo cây làm xước cái áo len mới, lúc về đi lùi vô nhà, phòng khi má đánh thì chạy cho lẹ. Cái áo lành lặn thời niên thiếu là cả một gia tài. Như đứa trẻ xứ biển này đây.

Thằng áo rách vẫn còn đứng nấn ná mếu máo hoang mang bên rào. Bạn nó đã chạy về trước vì tới giờ cơm. Nỗi sợ, nhớ tiếc làm cho những tia lửa trong mắt nó dịu lại khi tôi lân la lại bâng quơ gợi chuyện nọ kia. Hỏi nhà nó khoát tay về phía xóm nằm bên kia bãi cát, nom cái nhà nào cũng giống hệt cái nào, giống cả những cuộn khói còm nhom đang bay lên.

Bãi cát đó người ta cũng sắp rào lại để xây một trung tâm thương mại của đảo. Nghĩa là con đường ra ngoài bãi biển của tụi nhỏ ngày càng bị ngăn lại bằng nhiều lớp rào gai tường cao hơn. Nó kể mấy tháng trước chiều nào nó cũng dắt em ra ngoài bãi biển để đút cơm, “cho con nhỏ vọc nước là đút nhiêu nó cũng ăn hết, ở nhà dễ gì…”. Thằng áo rách kể và kể, về đứa em nhỏ và bọn trẻ trong xóm, về những cuộc chạy chơi vui đến rã rời và có vài đứa suýt chết đuối, về những con cá trôi dạt mà nó lượm được đem về muối chiên ăn thum thủm bùi bùi.

- Con chó Phèn của nhà tui chôn ở đó.

Giờ bãi biển, nơi con chó “khôn như quỷ, lúc sắp chết còn biết chảy nước mắt” đang nằm yên nghỉ, đã thuộc về những người xa lạ.

Và mai đây bầu trời cũng thuộc về người khác, khi tòa lầu mọc lên và ngăn trở mọi tầm nhìn. Tôi nghĩ vậy khi nghe thằng nhỏ ba hoa nói nếu leo lên mấy cây dương chỗ gần nhà nó, là có thể thấy được hòn Rái Nhỏ tuốt luốt ngoài khơi. Nó vừa kể vừa mân mê chỗ áo rách, như không làm sao quên được cú xé tàn nhẫn làm lạnh buốt mấy cái be sườn bén ngót. Bìa vải nào cắt vào tay nó mà cơn oán giận quay trở lại, thằng nhỏ đẩy tôi về bên kia biên giới bằng bóng tối trong mắt nó, “chị cũng phe tụi nó…”. Tụi nó ở đây là hàng rào gai hay chủ của hàng rào gai ?

Chữ phe của nó làm tôi nhớ ông cậu họ già nua của mình, có lần gằn giọng hỏi bây coi coi vầy là mây che phía nào ? Câu hỏi, cũng là kết luận của một câu chuyện xóm làng mà ông già đang uất giận. Mấy nhà máy thủy sản làm ô nhiễm nguồn nước nuôi trồng quanh đó, kêu than mấy năm trời không ai giải quyết nên một bữa bà con kéo lại công xưởng nói chuyện phải trái. Mười lăm phút sau khi mọi người vẫn còn nhao nháo đừng ngoài rào thì nhà chức trách tới xua tan tác. Mây không đứng giữa để đôi bên đều râm mát đều được tưới tắm mà dường như nghiêng hẳn về một phía không một chút giả vờ xuề xòa.

Bây cũng phe tụi nó, ông già nói vậy rồi bỏ đi một nước, khi nghe tôi ngập ngừng cái câu “bà con mình cũng có chút không phải…” mà tôi đã phải xóc cả rổ lời để lựa ra những cái nhũn nhặn, mơ hồ nhất. Lúc đó tôi tự hỏi từ bao giờ xuất hiện những ranh giới và tôi buộc phải chọn hoặc đứng về phía này hoặc phía kia, không được ở giữa ?

Như thằng nhỏ rách áo ngay từ đầu đã mặc định tôi thuộc về phía những kẻ lấy mất bãi biển của nó, vì tôi được ra đó chơi mà không phải leo rào. Chỉ cần trả tiền thôi, thứ mà đứa bé kia không có. Thằng nhỏ rạch ròi tới mức bỏ tôi lại, nó băng sang bên kia đường một mình.

Và khi chiếc xe hơi màu trắng sữa ngang qua tung đám bụi cát chia cắt hẳn tôi và thằng nhỏ, tôi đã kịp thấy nó hốt một nắm vỏ ốc ném vói theo, kèm theo một cái đá gió rất khẳng khái. Sau những vòng bánh xe thản nhiên quay có mấy tiếng chửi thề của chính thằng nhỏ lả tả rơi.

Ủa sao tôi thấy buồn thấy đầy dự cảm bâng quơ ? Ủa sao tôi không thấy hành động của thằng nhỏ tuyệt vọng như đã từng, khi nhìn theo bóng ông cậu mình lúi húi chống gậy đi trong chiều muộn?


ĐÒ LÈN

Nguyễn Duy.

.

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.

Tôi trong suốt giữa hai bờ hư - thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.

Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!

Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!


LỰA CHỌN..

Nguyễn Ngọc Tư.

."Đường về ngược gió. Tôi ghé mua một con diều, bãi cát trước nhà không biết có đủ rộng cho cánh diều này bay lên chiều nay ? Bạn mừng rỡ. Ông già cũng mừng. Cả ngày ông chưa bán được con diều nào. Cũng như những đứa trẻ, ông cứ ảo tưởng mùa hè là con nít được chơi, chơi bất tận.

Nhưng ở thành phố này, những mùa hè như thế đã không còn nữa…"

...

Có lần, tôi đứng lâu trước ngã ba. Bạn ngồi ở đằng sau, sốt ruột nói, “mẹ, đèn xanh kìa, sao mẹ không đi ?”. Đèn đỏ lần nữa, và thêm một lần xanh. Tôi chạy thẳng.

Rẽ trái một quãng, là nhà của một cô giáo mà tôi đã liên lạc trước, người sẽ dạy cho bạn tôi học lớp một trước khi vào lớp… một. Tôi đã đến đó, nhìn những bạn trẻ cùng lứa, hay nhỏ hơn bạn đang lả mồ hôi, cắn môi rèn những dòng chữ đầu đời, làm những bài toán đầu đời dưới ánh đèn xanh xao. Nơi này, mùa hè của bạn sẽ đi qua, cùng với cô giáo, bút, tẩy, những con chữ…

Nhưng chiều nay tôi không đưa bạn đến với cô giáo. Lần thứ hai tôi lỡ hẹn, lần đầu là nửa năm trước, lúc đón bạn từ nhà trẻ, tôi thấy một bạn gái đang ngồi bẹp dưới chân mẹ, khóc tỉ tê. Người mẹ cũng trạc tuổi tôi, phân trần “con bé không chịu đi học chữ…”. Tôi bỗng liên tưởng bạn ngồi khóc dưới chân mình, trong buổi chiều mai, khi bạn biết tôi đến trường chỉ để chuyển bạn đến một trường học khác. Tôi bỗng thấy sợ, không phải sợ những giọt nước mắt tủi hờn kia mà tôi sợ mình không an ủi được một đứa trẻ, tôi có gì để giải thích một cách dễ hiểu nhất, tại sao nó phải đến trường, học những thứ mà gần một năm sau nó mới phải học ?

Hôm đó tôi cũng dừng lại ở ngã ba, ngẩn ngơ để rồi đi thẳng. Tôi yêu những ngã ba, ngã tư vì chút thời gian ít ỏi mà chúng dành cho tôi, để nghĩ, chọn lựa, đắn đo. Tôi cảm ơn ông già bán dạo bên vỉa hè. Một chiều nào ông dựng chiếc xe đạp treo những con diều nhiều màu rực rỡ.

Những cánh diều nhắc nhớ. Cánh đồng. Bờ vườn. Những cuộc chơi vô tận. Những đứa bạn gầy nhom nghèo khó thuở thiếu thời. Lớn lên tôi vẫn không tin là có thiên đường nào tuyệt hơn những mùa hè ngày trẻ dại. Từ khi tôi mang bạn theo bên đời, bắt đầu dành dụm cho bạn, vài lần bỗng buồn hiu, tôi không làm sao để dành được cho bạn cái tuổi thơ hoang dã ngọt ngào của chính tôi xưa.

Tuyệt vọng hơn, tôi phải tham gia hủy hoại thiên đường của riêng bạn. Nhỏ nhoi thôi, chỉ là những món đồ chơi bị vặn vẹo rã rời, bộ phim hoạt hình với cuộc rượt đuổi triền miên của mèo chuột, những cuộc đi công viên vào cuối tuần bắt tay với… khỉ, và lăn lóc vào bãi cát bên kia đường, bắt chuồn chuồn, cào cào trên những vạt cỏ ống… Nhỏ nhoi, và đơn điệu, nhưng rồi một ngày tôi nhận ra, bạn cần học, như tất cả bạn bè của bạn đang sấp ngửa học, như những thần đồng biết chữ tuổi lên bốn, lên năm.

Tôi toan tính đẩy bạn đến một lớp khác, và học những thứ mà tôi không chắc là có ích cho đứa trẻ bảy tuổi. Những đứa trẻ luôn học vì sự tự hào của cha mẹ, nhưng bạn học vì tôi thấy tất cả trẻ con đều… học. Tôi biết là bạn sẽ khóc, giãy giụa, ì ra không chịu đi. Như ông luận sư Osho trong cuốn sách mà tôi đọc. Sau này, bạn nói, vì mẹ ép buộc tôi, nên tôi mới đi học, chứ tôi chẳng muốn học chút nào.

Tôi nói riêng với cô giáo, con trai tôi không cần giỏi, chỉ cần nó nhìn thấy chữ không bật ngửa ra vì lạ. Bạn không cần giỏi vì sự hãnh diện của tôi. Bao giờ bạn cảm thấy hãnh diện vì sự giỏi giang của chính mình, bạn cứ học sáng, học trưa, học chiều, học tối. Hồi cô giáo mẫu giáo phàn nàn rằng bạn học không tốt, tôi ngoác miệng ra cười, chuyện đó bình thường thôi. Tôi không phổng mũi vì bạn giỏi giang hay buồn bực vì bạn chậm chạp. Học giỏi, điều đó tuyệt. Nhưng không giỏi cũng không sao.

Như vậy thì mình cũng phóng khoáng lắm, tôi tự thuyết phục mình. Đôi lần tôi đứng lại nhưng cứ bị ai đó đẩy đi bởi một câu nói vô tình, “thằng con mình biết đọc báo rồi…” hay “bạn nó đứa nào cũng biết chữ…”. Cô giáo và bà mẹ đang cố hợp tác làm nên những thần đồng. Và nền giáo dục ôm chúng vào, miệng cằn nhằn nhưng lòng vui sướng. Bởi chỉ những thần đồng mới có thể vừa cõng đá vừa bước trên gai nhọn, để đến trường học. Tôi sợ bạn sẽ bị bỏ lại đằng sau. Rẽ trái dường như là ngược chiều, nhưng người ta đi nhiều, đi mãi thành ra quen, thành ra đúng, thành một dòng chảy không sao ngăn được. Nó khiến người ta phải trôi theo. Nhưng cái ngã ba chiều nắng lạt đã cho tôi thêm ba mươi giây để nghĩ. Bỗng dưng tôi cảm giác, cuộc lựa chọn này không cho riêng bạn, mà còn cho chính tôi. Giữa một bà mẹ và một bà mẹ hãnh tiến. Giữa bà mẹ và bà mẹ yếu đuối. Và sự yếu đuối này sẽ trả giá bằng tuổi thơ bị vắt kiệt của bạn, với tấm giấy khen và năm ba cuốn sổ trắng bạn mang về, những thứ bạn đánh đổi cả thời thơ ấu.

Đường về ngược gió. Tôi ghé mua một con diều, bãi cát trước nhà không biết có đủ rộng cho cánh diều này bay lên chiều nay ? Bạn mừng rỡ. Ông già cũng mừng. Cả ngày ông chưa bán được con diều nào. Cũng như những đứa trẻ, ông cứ ảo tưởng mùa hè là con nít được chơi, chơi bất tận.

Nhưng ở thành phố này, những mùa hè như thế đã không còn nữa..


"CÚI XUỐNG VÙNG NON XANH MÁT.."

Nguyễn Ngọc Tư.

."Nhạc “nghe khoẻ”, là chữ của thằng nhỏ ở tiệm bán băng đĩa quen. Một lần tôi ghé qua, nó khoe “em có nhạc này nghe khoẻ lắm, bảo đảm chị thích”, rồi nó đem ra mấy cái đĩa nhạc thu âm hồi năm một ngàn chín trăm mấy mươi gì đó. Gương mặt của Thái Thanh, Hà Thanh… trên bìa đĩa coi trẻ măng, trong sáng, hơi quê quê, dễ thương kinh khủng. Nghe chúng lần đầu, tôi đã nghĩ, tình cờ thằng nhỏ tặng mình quà quý.

Nhưng thằng nhỏ không tình cờ chút nào khi miêu tả cảm giác về một bài hát bằng chữ “khoẻ”, mà không phải là “hay”, là “xúc động”, là “sởn tóc gáy”. Khoẻ, vì dễ chịu, khoan khoái, thoải mái. Vút khỏi tiếng đệm guitar bập bùng, là chơi vơi tiếng hát non trong, mộc mạc, chân phương, đôi lúc vụng về, run rẩy. Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát.."

.........

Cạnh quán cà phê Văn Nghệ có ông trải chiếu ở vỉa hè bán đồ cổ, hay mở cái băng nhạc Trịnh Công Sơn Hát cho quê hương Việt Nam 1 thu âm năm 1969. Nghe lần đầu, thề có mấy lá bàng rơi bữa đó, tôi muốn chạy qua ôm ông đồ cổ một cái, vì ông đem những bài hát này ra con đường vốn chỉ rùng rùng nhạc vũ trường, nhạc trẻ kiểu “yêu thì nói hông yêu cũng nói”… Giữa bụi đời mù mịt, giữa xe cộ ngược xuôi, cô Ly của bốn mươi năm trước cất tiếng hát trong veo, “Cúi xuống. Cho bóng đổ dài. Cho xót xa mặt trời. Cho da thơm trên người nay cũng phôi pha…”, nghe mát rượi lòng, nghe khoẻ dễ sợ.

Nhạc “nghe khoẻ”, là chữ của thằng nhỏ ở tiệm bán băng đĩa quen. Một lần tôi ghé qua, nó khoe “em có nhạc này nghe khoẻ lắm, bảo đảm chị thích”, rồi nó đem ra mấy cái đĩa nhạc thu âm hồi năm một ngàn chín trăm mấy mươi gì đó. Gương mặt của Thái Thanh, Hà Thanh… trên bìa đĩa coi trẻ măng, trong sáng, hơi quê quê, dễ thương kinh khủng. Nghe chúng lần đầu, tôi đã nghĩ, tình cờ thằng nhỏ tặng mình quà quý.

Nhưng thằng nhỏ không tình cờ chút nào khi miêu tả cảm giác về một bài hát bằng chữ “khoẻ”, mà không phải là “hay”, là “xúc động”, là “sởn tóc gáy”. Khoẻ, vì dễ chịu, khoan khoái, thoải mái. Vút khỏi tiếng đệm guitar bập bùng, là chơi vơi tiếng hát non trong, mộc mạc, chân phương, đôi lúc vụng về, run rẩy. Ca sĩ không dùng bất cứ phương tiện nào kỹ thuật nào để nương dựa, lấp liếm hay che đậy, cứ hồn nhiên như vậy cất cao tiếng hát từ đáy lòng, thanh thoát.

Những ca sĩ ấy sau này khi đạt đến đỉnh cao của tài năng, họ rực rỡ, họ nổi tiếng, họ thu nhiều bản nhạc gần như hoàn hảo, nhưng sự giản dị năm xưa mãi mãi ở lại với… năm xưa. Tôi ngã lòng vì sự giản dị đó. Kiểu giản dị mà mười năm trước chưa chắc tôi đã thích, bỗng dưng bước chân qua tuổi ba mươi, bỗng dưng thấy… khoẻ khi đứng trước những tấm ảnh trắng đen, những bức tranh lụa, những trang viết của Thạch Lam, những minh hoạ nguệch ngoạc mấy nét chì, những bản nhạc thu âm năm xửa năm xưa, hay những bản demo trên mạng…

Ông già bạn tôi có lần nói, viết sao cho càng giản dị thì văn chương càng đẹp. Tôi cười nói, “câu này của chú mười một chữ, mà hai mươi hai năm nữa chưa chắc cháu làm được”. Ông cười cười, “sai bét, cháu đã làm được rồi, mấy cái truyện đầu tay đó”. Nhưng những trang viết giản dị, ngây ngô có phần khờ khạo đó tôi càng sống càng trải đời càng rời xa chúng. Giờ mà viết được vậy, coi bộ khó hơn lên trời.

Ngó qua ngó lại, tôi thấy cải lương cũng vậy. Hồi trước, tôi mê cải lương, mê ngẩn ngơ những bản vọng cổ xa xưa thu trên đĩa nhựa. Nghệ sĩ giọng nào ra giọng nấy, chữ nào tròn chữ nấy, ngón đờn dù tài hoa lả lướt đến đâu vẫn giữ sự trong trẻo, hồn hậu, vẫn tôn giọng ca lên hàng đầu. Thứ vọng cổ này nếu ngồi kế cassette thưởng thức chưa đã, phải dỏng tai nghe ké bên hàng xóm, hay ngồi ngoài vườn nghe trong nhà vẳng ra, chỉ tiếng ca và tiếng ca, gió đàn qua đánh lại, mùi ác liệt. Cải lương giờ đã qua thời hoàng kim, người ta biện ra nhiều lý do, nhưng nó làm rơi mất một đứa hâm mộ như tôi chỉ vì một bữa kia Vũ Linh nắm tay Tài Linh chạy lên đồi cỏ non. Xét theo tính hợp lý, tôi chấp nhận được chuyện ca vọng cổ lúc yêu nhau, đánh nhau, bắn giết nhau, miễn là xảy ra trên sân khấu, trên sàn diễn, nhưng giữa đường tự nhiên có hai người vừa ôm khít rịt mắt nhìn đắm đuối vừa ca khơi khơi chắc tôi phải nghĩ tới bệnh tâm thần. Tô Ánh Nguyệt năm xưa đau nỗi đau xa con chỉ cần nghẹn ngào bước từng bước run lẩy bẩy, nắm tiền trong tay bay bời bời; Tô Ánh Nguyệt bây giờ vừa gào thét vừa bứt xé hàng khuy áo khoe da thịt, mệt gì đâu.

Chia sẻ ý nghĩa này với ba đứa bạn, một đứa cười “vậy mới là tìm tòi, sáng tạo”, đứa kia hỏi vặn “bộ khùng sao mà đi coi cải lương”, đứa còn lại nói “thấy ghê thiệt nhưng thời này nó… phức tạp vậy”. Ừa, đúng là thời này phức tạp thiệt, bữa trước muốn mua cái áo “nhìn thấy khoẻ”, màu sắc nhã nhặn, hoa văn đơn giản, kín đáo mà phải lục tung cả cửa hàng trong con mắt căm hờn của chị chủ. Sách, băng đĩa thì nhất thiết phải siêng năng lục lọi, lâu lâu mới rinh được một cuốn văn đẹp kiểu Thạch Lam, lâu lâu mới chộp được một vài đĩa “nhạc nghe khoẻ”, sao chép lại từ những nguyên bản của mấy chục năm trước nên chất lượng cũng được chăng hay chớ.

Có lần hỏi thằng nhỏ mấy cái đĩa nhạc cổ lỗ sĩ này bán chạy không, nó nói “người ta mua nhiều lắm, nhưng chị là trẻ nhất”. Lại hỏi tiếp, “bộ thấy tôi mệt mỏi già nua lắm sao mà nghĩ nhạc này hợp với tôi”. Thằng nhỏ cười, “tại em thấy chị không đeo vòng vàng gì hết”. Câu trả lời này làm tôi nhớ mấy giai thoại thiền, kiểu như hai ông đi bên bờ sông, một ông hỏi đại niết bàn là gì, sư trả lời, “mau”. Hỏi “mau gì”, ông sư trả lời, “xem nước”. Hiểu chết liền.

Bữa qua ngồi quán chiều vắng ngắt, ông đồ cổ lại mở cái đĩa hát cổ, cô Ly đổ giọng ca mát rượi ra hè phố, “Cúi xuống. Vùng non xanh mát. Và cao tiếng hát cho cơn ưu phiền tan…” bỗng thấy tâm hồn mỏi mệt của mình đang được sự giản dị nào đó cứu chuộc. Cảm giác gan bàn chân tôi vừa chạm vào mặt đất, hình như tôi vừa tháo giày ra bỏ bên đường.

Nhưng tuổi hai mươi gặp gì cũng hăng hái đeo mang, thấy gì cũng hớn hở vơ lấy vào mình, lỉnh kỉnh những phấn son, tô vẽ và xiêm áo, tuổi hai mươi ấy giờ nằm lại ở đâu?


HANG ĐỘNG

Nguyễn Ngọc Tư

Tản văn

."Thật ra thì em từng sợ, từng kêu gào ôi tôi cô đơn quá. Cái tuổi hai mươi người ta hay kêu gào. Nhưng giờ thì em thấy bình thường. Bình thường khi nghĩ rằng được một mình là quà tặng của trời. Bình thường như cái cảm giác cô độc giữa chỗ đông người. Bình thường như ngán sợ nói chuyện điện thoại. Bình thường như việc từ chối đến chơi nhà bạn, “muốn gì thì gặp ngoài quán…”.

"Chỉ lạ đôi khi em nghe thèm một tiếng người…"

...............

Nhìn vào bản vẽ nhà con gái trải ra trên đất, má hỏi vậy rồi cái chỗ dành cho khách ngủ nó nằm ở đâu. Em chưng hửng nói làm gì có. Má cũng chưng hửng hỏi gì kỳ vậy?

Nhà má, cũng là bản sao của nhà ngoại, không rộng rãi nhưng luôn kê thừa ra bộ ván ngựa, bộ vạc cau, hay chiếc giường thước sáu dành cho bà con tới chơi ngủ lại. Quan trọng ngang bằng tủ ly là tủ gối, những bộ mền gối nằm không phải là mới tinh, nhưng sạch sẽ. Thỉnh thoảng, lựa ngày được nắng, má lại mang chúng ra phơi phóng cho thơm, hờ khi họ hàng ghé qua không phải trằn trọc vì mùi ẩm mốc. Ở trong tâm thế đón khách tới chơi bất tử, nên nhà má luôn sạch, trên bàn đặt sẵn bình thủy nước sôi với bộ ấm trà.

Cũng giống như những ngôi nhà trong xóm, luôn có bộ vạc nhỏ đặt ở hàng ba, khạp nước mưa nhỏ cho khách bộ hành lỡ buổi. Hàng rào thấp, ơ hờ như chẳng có, trang trí cho vui chớ không phải để ngăn cách. Cửa mở phơi lòng. Ở cái xóm nhỏ vàm sông đó, nồi chè khoai môn và tiếng gà gáy đều chan đến ít nhất năm nóc nhà.

Một ngôi nhà luôn phơi bày nết ở của chủ nhân nó.

Làm việc ngay trên bản vẽ, em đưa ra những yêu cầu giống như cho việc xây một cái hang hơn là cái nhà : kín, chắc, không ai ảnh hưởng tới ai. Rào nhà em cao, cắm trên đầu rào những thanh sắt nhọn như ngọn giáo. Nhà bên xóm còn giắt miểng chai bia lên, quắc lạnh trong nắng, nhìn rợn thay cho bọn trộm. Tường dày hai lớp gạch, để mọi tiếng động bên xóm được đẩy ra xa, và cây trồng nghiêng ngã về sân nhà, bảo đảm không cái lá nào rơi lạc qua sân khác. Nhà mình là một cái hang, em nghĩ vậy, khi ngắm nghía tổ ấm sắp thành hình.

Em sẽ cố thủ ở đây, tận hưởng sự riêng tư, không mặc gì trên người hoặc hát vống lên mà chẳng ngượng ngùng chi hết. Cơm khét chỉ mình ta biết, khà khà. Nghe người ta kể từng có thời kỳ cả nước hát chung bài hát, mặc chung sắc áo, và cùng ăn những món như nhau. Họ bị triệt tiêu những ý nghĩ khác lạ, những hành động không giống như bất cứ đám đông nào. “Quên chính mình, quên mình muốn gì đi, rồi thì sống ngon lành”, bí quyết của những người từng trải qua mùa đồng phục, khi em tò mò đi hỏi. Hóa ra chỉ ngắn gọn vậy, khi mô tả một nỗi đau bản thân bị đánh mất.

Nên em trân trọng cái đời sống mà em nghĩ là khá dễ chịu, nhiều lựa chọn này. Thiếu niên thoải mái nhuộm tóc xanh mặc quần đáy thòng đến gối lắc lư điên dại theo một bài nhạc ngoại. Thầy giáo thoải mái xăm trái tim đẫm lệ lên tay. Hai thằng con trai thoải mái hôn nhau giữa chỗ đông người. Chương trình thời sự trên đài truyền hình quốc gia thoải mái chen quảng cáo thuốc nam khoa một người khỏe hai người vui, mặt mày thỏa mãn. Và em, được một mình, tùy ý. Nhà chức trách căng thẳng vì người ta tụ tập, hoàn toàn chẳng bận tâm kẻ một mình. Em xài đã đời cái quyền được một mình đó. Dĩ nhiên khi khả năng này thuần thục, sắc sảo thì cũng có nghĩa vài khả năng khác trong em bị cùn lụt đi.

Có lần đọc nửa cuốn Những bức thư đầm ấm của hai ông Nguyễn Hiến Lê và Quách Tấn, em cùng người bạn hào hứng rủ nhau tụi mình sẽ viết thư giống mấy ông già kia. Kể nhau nghe cái gió chuyển mùa, bài hát sướt mướt vừa nghe được chiều nay, một cuốn sách hay tìm thấy được trong gánh ve chai, hay rên rỉ về một buồn quéo râu ria, vô cớ đến chiếm đoạt từng tế bào và không đưa ra lời hứa hẹn nào rằng sẽ ra đi sớm. “Quan trọng là hai chục năm sau khi đọc lại, tụi ta sẽ biết mình đã từng điên như thế nào…”, em hăng hái bảo vậy. Lịch sử rốt cuộc đã không được ghi lại, vì vụ tâm tình thương mến thương ấy đã xếp xó chỉ sau chục cái thư điện tử. Sự hào hứng ban đầu rơi xuống vực, xác nằm cạnh những mảnh vụn hào hứng kinh điển khác của thiên hạ như lên sàn chứng khoán, bán hàng đa cấp, lấy chồng Nam Hàn…

Những cái thư trắng sáng và phẳng phiu, không một vết ố nào trên giấy bởi nước mưa, không mang nỗi lo lắng bị thất lạc bởi anh nhân viên bưu điện làm rơi ở dọc đường, không sợ chữ xấu gà bươi vừa đọc vừa đoán… nhưng sự tiện nghi chẳng có giá trị gì, khi người ta không sẵn sàng chia sẻ.

Một đứa trẻ tập tành cô độc khi nó bị đứt tay mà không khóc thét lên cho người lớn giúp. Nó tự mút máu, liếm láp vết thương. Nói ra nhiều khi rắc rối thêm, người lớn sẽ hỏi tại sao con chơi dao, má đã dặn rồi, đáng đời… Lớn lên một chút, thành thiếu nữ, những bí mật của một cơ thể biến đổi từng ngày, và những mối tình thầm, những giấc mơ u uẩn… nó càng thích riêng tư hơn.

Một mình trở thành thứ gì đó gần như bản chất.
Hoặc là, những vui buồn bây giờ cứ vụn như bụi, khó mà kể thành chữ, thành lời. Nên những ý tưởng xuất hiện trong đầu như đi làm thiện nguyện xây cầu nông thôn hay tổ chức một buổi họp lớp, lên mạng lập nhóm đi Angkor… vừa nhen lên đã tắt ngúm.

Lần kết nối thất bại gần nhất của em là rủ bà bạn vong niên đi bụi. Ngay từ đầu đã xuất hiện một điềm báo xấu : bà bạn đi lạc trong bến xe. Em đi quá nhanh, lên xe ngồi chễm chệ và bạn rớt lại. Lúc chờ xe thì em bỏ rơi bà bằng cuốn Mười hai truyện phiêu dạt của ông Gabrien Gacxia Macket. Xe chạy, em lại tiếp tục để lạc bạn đường bởi thích day mặt ra ngoài ngắm cảnh. Thậm chí em còn làm một bài thơ về cái bóng chính mình bên ngoài tấm kiếng xe, sau đó sực tỉnh, bối rối tìm chuyện gì để nói với bà bạn đang xo ro bên cạnh.
Em áy náy với người bạn đường, nhưng em không sợ cái sự đứt rời không cứu vãn đó.

Thật ra thì em từng sợ, từng kêu gào ôi tôi cô đơn quá. Cái tuổi hai mươi người ta hay kêu gào. Nhưng giờ thì em thấy bình thường. Bình thường khi nghĩ rằng được một mình là quà tặng của trời. Bình thường như cái cảm giác cô độc giữa chỗ đông người. Bình thường như ngán sợ nói chuyện điện thoại. Bình thường như việc từ chối đến chơi nhà bạn, “muốn gì thì gặp ngoài quán…”. Và rất bình thường nếu như căn nhà em không có chỗ nào dành cho khách. Chương trình thế giới động vật nói rằng, cọp cũng không thích bọn nào lân la đến hang ổ nó.

Chỉ má thấy không bình thường, và bà gởi ra cho em một bộ mùng mền chiếu gối, nhắn rằng “Bỏ vô tủ áo, hờ khi có khách…”. Lúc nhờ thợ khoan vào vách hang của mình mấy cái khoen nhôm để treo mùng, em thản nhiên nghĩ chẳng bao giờ mình phải dùng tới nó đâu, cứ làm cho có vậy, cho má yên lòng.

Trong cái hang trống trải của mình, thỉnh thoảng em nghĩ về những ngôi nhà khác. Nhà của ông già Bến Tre hiu quạnh. Nhà ông bạn Cần Thơ tĩnh lặng. Nhà ông già An Giang nhàu nhĩ, thiếu sức sống. Nhà của ông già Sài Gòn đẹp mà bồn chồn. Họ đều một mình, và không biết, có cảm thấy ngôi nhà là một cái hang ? Sự cô độc này đều được người ta tự chọn lấy, nhấm nháp như một tách trà đặc. Cho đến khi cái thứ nước chát đắng có hậu ngòn ngọt ấy thay cho máu, chảy trong người, ngập tràn tim. Chắc là lúc đó em vẫn thấy bình thường. Cũng hơi đáng sợ ở chỗ quá sức “bình thường” đó.

Chỉ lạ đôi khi em nghe thèm một tiếng người…


BA ĐỒNG MỘT MỚ MỘNG MƠ

Nguyễn Ngọc Tư

."Đôi lần chị thấy hơi cay đắng, đời người sao chỉ quẩn quanh với những thứ tầm thường bột ngọt, xà bông…"

..................................

Khi bước qua cái cửa xiêu của căn nhà xiêu, khi mắt chị còn chưa quen với cái không gian tối tăm bên trong nhà, cái mà chị nhìn rõ nhất là ánh mắt sáng quắc của thằng bé. Nó nằm cong queo trên giường, héo như một đứa trẻ lên năm. Xương nó nhô ra mẩu nào cũng bén ngót. Miệng liên tục đớp không khí, nước dãi ri rỉ chảy ra bên khóe môi sần sùi, thằng bé nối một sợi nhìn bền dai vào chị, hút chị đến ngồi với nó. Và từ đó, nó không buông tay chị ra nữa. Cứ níu lấy, cứ ghì chặt, mắt ầng ậc nước, cổ họng phát ra những âm thanh gru gru vô nghĩa… thằng bé tỏ ra quyến luyến không rời.

Bà mẹ xoắn quần ống cao ống thấp, chân rơi ra những mảng bùn khô, nói thằng nhỏ đã hai mươi mấy tuổi rồi, bà không nhớ rõ vì có nghĩa gì đâu, nó bao nhiêu tuổi thì mãi mãi như đứa trẻ như vầy thôi. Chị bỗng có cảm giác cách nắm tay này, cách nhìn da diết này là của một chàng trai. Máu mơ mộng trỗi dậy.

Nên chị nán thêm chút nữa trong khi những tình nguyện viên khác trong nhóm công tác xã hội đã lên xe ngồi chờ. Chị muốn biết thằng bé sẽ nói gì với chị. Cái sự chị sắp đi khiến nó kích động dữ dội, cơ thể co giật, mặt méo xệch, miệng há to và nước dãi chảy ra ròng ròng. Nó đang cố nói. Chị cố đợi một âm thanh khác với những tiếng gru gru tuyệt vọng. Chị ghé tai vào gần, rồi gần hơn nữa, đến nỗi tai chị gần như chạm môi nó.

Và nó nói bật thành tiếng. Bằng tất cả tinh lực.

Chị ra xe, quệt nước mắt chị gượng đùa, trời đất, tưởng đâu nó mê mình. Đùa, vì chị không mơ mộng đến vậy, chị mong nó nói “Ở chơi!”, nhưng suốt buổi ngồi với thằng bé, thấy nó nhìn mình khi dịu dàng khi rát bỏng, làm những cử chỉ khi trìu mến khi riết róng, chị không bao giờ tưởng tượng là nó nói “TIỀN!”.

Có người nghe chuyện nói đáng đời, ai biểu lãng mạn chi.

Nhớ hồi mới lấy chồng, chị mua tặng mẹ chồng ở quê cái nồi cơm điện. Mẹ đem cất vì “nấu cái này không có cơm cháy với nước cơm cho tụi nhỏ chan…”. Tặng mẹ mấy bộ đồ bà cũng khổ sở phân trần, “màu sáng quá má ra vườn sợ dính mủ chuối…”. Chị mua truyện tranh đem về cho bầy em, tụi nó háo hức cầm lên rồi hỏi bằng giọng háo hức hơn nữa, “chị hai có mua bánh mì không?”. Cứ trớt quớt vậy. Mỗi lần nhìn bình hoa vải chị mang về mẹ lấy túi ni lông bọc lại cho khỏi bụi, cho nó đỡ chói lên đơn độc giữa căn nhà vách lá, chị có chút mắc cỡ. Giờ thì chị chỉ mua đường, nước mắm… và chắc chắn chúng được hồ hởi đón nhận. Đôi lần chị thấy hơi cay đắng, đời người sao chỉ quẩn quanh với những thứ tầm thường bột ngọt, xà bông…

Trước hôm mẹ chồng qua đời, bà viết cái thư. Chị vừa đọc vừa khóc. Thư chỉ dặn chuyện tiền nong, đất đai. Lời cuối cùng, như chị vẫn thường quen đọc ở đâu đó, rằng “mẹ để lại muôn vàn tình yêu thương cho các con”, thì mẹ chồng chị viết “bỏ lỗi cho má, vì má mót được có nhiêu đó, chia cho tụi con hơi khó…”. Chị biết là mẹ thương con theo kiểu của mẹ, biết đâu còn nhiều hơn những bà mẹ kia, nhưng vẫn hơi bẽ bàng.

Biết là đời giờ ô trọc, nhưng chị thích mua vé đi tàu mơ mộng, không hay giờ tàu đó cũng chở vịt, gà… mất rồi. Lảo đảo xuống tàu mới biết tại mình hay tưởng mà ra nông nỗi. Có lần chồng chị dúi tiền vào túi kêu vợ đi mua kem dưỡng da tay. Chị sướng suốt buổi chiều, miệng tủm tỉm cười bâng quơ không đừng được. Sau đó anh còn khiến chị ràn rụa nước mắt khi bảo “nhìn cái tay nhăn nheo đi nhào trộn thức ăn là thấy hết ham, thấy mất ngon rồi…”

Chị ngồi ngắm mãi bàn tay, nghĩ, người ta nói yêu nó một câu thì có mất gì đâu. “Tôi xin người cứ gian dối, cho tôi tưởng người cũng yêu tôi…”, câu hát đã có thời chị ghét, sao giờ thấy đúng ý mình.


BẾN TRE

Nguyễn Ngọc Tư.
."Dừa ơi ta nhớ lắm nghe.."

...................................................

Cứ mỗi lần qua Trung Lương, tôi hay nghĩ, chỉ cần rẽ vào thành phố Mỹ Tho, qua một chặng đường, là tới một bờ sông. Qua con sông đó, tôi sẽ gặp Bến Tre. Tôi sẽ được về nhà.

Cái ý nghĩ đó gây cho tôi một cảm giác lạ lùng, chẳng có mối quan hệ ràng ruột nào ở đó, chẳng có giọt máu, đốt xương nào của tôi, của những người thân tôi ở lại trên mảnh đất đó, vậy mà vẫn thương, một cách kỳ lạ, vẫn nghĩ rẻo đất hẻo lánh kia là quê, là nhà mình.

Mà ngộ, tôi không biết Bến Tre. Cẩn trọng với từ “biết”, bạn chơi cùng nhau mười năm, tôi không dám nói biết, ở trên đất quê mình ba mươi năm, tôi ngập ngừng chưa biết đã biết chưa, huống chi, chỉ hai lần tôi đến Bến Tre.

Bến Tre lần đầu, tôi ngơ ngác như một cô dâu mới, con phà Rạch Miễu chạy chậm như chiều. Một chuyến phà thong dong, người ta bỏ ra khỏi xe, ngồi ngắm sông, người ta cười nói chậm, đốt thuốc và nhả khói cũng chậm rì. Thời gian như ngưng đọng, trên gương mặt người, trên giòng sông, trên cái cồn đất xanh rì cây trái. Suốt ba ngày sau đó, tôi chỉ biết Bến Tre có cái quán cháo cua đồng, nấm mối xào ngon rụng rún, sông Hàm Luông thì buồn lắm, đi mãi đi mãi mới gặp được một con tàu ngược nước. Sông chảy cũng chậm, dịu dàng. Người say chậm. Yêu chậm và tỏ tình chậm.

Lần thứ hai tôi qua phà Rạch Miễu, mưa và đêm tối mịt mùng. Xe mượn nên xe lạ, đất lạ, sông lạ, cả mưa, cả người cũng lạ. Đứng gần tôi có một bà mẹ trẻ đang cố giữ ấm cho con bằng chiếc khăn choàng mỏng. Đứa bé thì cố ngọ nguậy chui ra để nhoẻn cười với mọi người. Một dì khoác tấm cao su trên vai như Thi Sách sắp ra trận trong tuồng “Tiếng trống Mê Linh”, tôi đoán là dân buôn bán, vì bao đồ ngồn ngộn được ràng phía sau xe, âu yếm hỏi tôi, ăn mặc phong phanh vậy có lạnh không con? Tôi thưa rằng không, trước câu hỏi đó, tôi có lạnh vì mưa xiên qua phà, lay lắt. Nhưng bây giờ tôi ấm như đang ngồi trước lửa, và trong cơn chếnh choáng như lần uống rượu đầu đời, tôi gật đầu khi một chị hỏi quá giang về ngã ba Tân Thành.

Sau này, nhớ lại, tôi buồn cười. Đi một đoạn, mới sực nhớ chị ta bịt kín mặt, không biết là người tốt hay người xấu, không biết đoạn đường trước mặt có đèn hay tối tăm, có mũi dao nào rởn lạnh chỉa vào lưng ta, và người ấy có cười khà khà, cầm túi và xe (mượn) của ta chạy mất. Ý nghĩ đó càng ngày càng riết róng, nên vừa đi vừa phấp phỏng. Đằng sau, chị hồn nhiên kể chuyện mình, một người Bến Tre trôi giạt đất Sài Gòn, mai là đám giỗ ba chị, tôi canh chừng cái túi mình, nhát gừng ừ hử. Rồi chị xuống ngã ba đón xe ôm về Tiên Thủy, tôi vào thị xã. Tôi thấy không mất gì mà đau xót như đã mất gì. Mất trước khi gặp chị trên chuyến phà đêm đó, mất lòng tin.

Chuyến phà, nụ cười của đứa bé, dì “Thi Sách”, chị phụ nữ không gương mặt, không tên tuổi ấy, cũng là một phần của nỗi nhớ tôi. Một nỗi nhớ mơ màng và mỏng, dai như tơ nhện. Hay nó chỉ là cảm giác. Như một mảnh gió bị lá cây xé vụn, những vẫn còn đủ ướt lạnh, khi lướt qua da ta làm se những lổ chân lông, cay mắt, và rùng rùng từng đốt sống trên lưng. Cảm giác thanh sạch về một dòng Hàm Luông trong vắt, hiền hòa, dịu dàng, lừ đừ. Cảm giác bình yên như những con đường nhỏ hai bên phủ đầy cỏ chạy mê miết dưới những vườn dừa mê miết. Cảm giác ấm áp với những người bạn ít nói hay cười, từ tốn, nói câu nào chắc câu ấy, không giao đãi à ơi. Cảm giác thơm thảo như mùi nấm mối nướng rợp cả góc vườn bên sông. Cảm giác ngây dại, hồn nhiên khi rượu Phú Lễ ngấm vào lòng. Và tuổi thơ thiếu thốn nào dậy lên khi ngậm lại cục kẹo dừa ngọt lừ, béo ngậy.

Khi tôi ngồi ghi lại những cảm giác rời này, tôi nhớ câu nói của Tài, “Người ta tốt đến nỗi mình thấy mình không xứng đáng. Bến Tre dễ thương. Xuống đó gặp toàn đực rựa, nhưng về nhà viết mấy bài thơ... tình”. Tôi nhớ lúc ông sếp tôi buồn, căng thẳng, lúc đau, lúc bị những đồng chí của ông xiên tên vào lòng, ông hút thuốc nhiều, và ngó ra ngoài cửa, chép miệng, “nhớ tụi Bến Tre quá chừng...”. Cũng ông, mỗi khi vui, ông lại nhắc, phải có mấy đứa Bến Tre ở đây... Tôi nhớ lời Duyên khi từ giã Bến Tre rồi, “mưa ở đó cũng hiền”. Tôi nhớ tới lời bài hát, “Uớc gì đang trắc trở. Gặp nụ cười Bến Tre…”.

Nhưng cụ thể Bến Tre là gì, tôi không biết. Kỷ niệm gom lại thì cũng một chuyến đi chơi sông, đám bạn bè nhổ tôi từ quán này trồng qua quán khác, từ cháo cua đồng qua nấm mối, cháo vịt. Những con đường nối tiếp những con đường đưa tôi đến một đám cưới rộn ràng. Chú rễ cười xòa như năm trước cười tiễn tôi, đường dài, thẳm nắng. Những chiếc phà chậm rãi cắt ngang những dòng chảy chậm. Chôm chôm chín đỏ, chất vun trong những cái cần xé để bên đường. Những ông bà già nhảy tango trong sân nhà văn hóa. Rượu Phú Lễ trong vắt, sủi tăm. Một người viết lớn càng thu mình càng lồ lộ ra, con đường hẻm heo hút, ngôi nhà nhỏ, vườn dừa… không có gì che chắn được sự phát sáng đó. Những người viết trẻ hơn ngà ngà đọc những câu thơ cũ, xếp bằng ngồi mời rượu nhau ở hàng ba nhà của một nhà thơ nghèo, sau lưng là tấm vách bằng mê bồ trét cứt trâu, những tấm vách “che bề nào cũng gió”. Và căn gác trọ, có ông già ‘tiếp tân”vui tính, chỉ còn vài chiếc răng lơ phơ, duyên dáng kể chuyện đời mình (cũng) bằng thơ, vẫn nhớ phòng số 5 mà tôi từng ở, để lần sau nữa, ông lại trao cho tôi chìa khóa phòng số 5… Tôi nhớ được cũng chỉ vậy, viết trôi chảy cũng chỉ vậy. Những cảnh như vầy có thể gặp ở bất cứ đâu trên vùng đất Tây Nam Bộ này, nhưng cái cảm giác Bến Tre thì không lẫn vào đâu được.

Cảm giác của một người đứng trước sông. Giải thích về sự hiền hòa, ngang tàng, trầm tư, hào sãng và cởi mở của Bến Tre, tôi chỉ biết lấy cái tâm thế đứng trước sông của Bến Tre ra mà nghĩ. Quay mặt về đâu cũng sông, đi đâu, ngó đâu, Tiền Giang hay Vĩnh Long, Trà Vinh cũng có những dòng sông vây bọc, sông rẽ đất mà chảy, cắt những cù lao để trọn một vòng tay mà ôm lấy cù lao. Phía còn lại là biển. Bến Tre như một người ngồi thiền định trên một lá sen, tâm trong trẻo róc rách tiếng nước đang lên. Một miền Tây thu nhỏ ít phai lạt, nhiều cảm giác.

Và vì nó nhiều cảm giác, nên tôi không biết thể hiện, cụ thể hóa bằng câu chuyện của mình như thế nào. Viết lại cảm giác là một điều không trọn vẹn, ít nhiều dang dở. Huống chi là chia sẻ, bởi hầu như không thể chia sẻ một cảm giác mà ta đang có. Nên mỗi khi nghe bạn xa bảo sẽ đi miền Tây, tôi mời bạn đến chỗ tôi, tất nhiên rồi. Và Bến Tre. Thông cảm cho tôi, cứ mỗi lần khách đến, tôi căng như người vào trận đánh. Làm sao cho khách ấn tượng mạnh, thương nhớ dài lâu, làm sao khách còn quay lại một vùng đất không có cảnh quan hùng vĩ, tú lệ. Làm sao người nhớ ta như ta đã từng nhớ người. “Ra trận” chỉ những món ăn ngon lạ lùng, những cánh rừng ngập mặn mênh mông, những dòng sông mùa nào cũng đầy nhóc nước, những con rạch quanh co, những chiếc xuồng ba lá chao trên mặt nước mong manh… “Ra trận” còn có những con người, mà tôi nghĩ cũng là những kỳ quan. Và người Bến Tre với tính cách sánh đặc, nồng Tây Nam Bộ sẽ làm choáng váng, ngất ngây khách lạ. Tôi cũng là dân miền Tây, gặp Bến Tre còn thấy ngẩn ngơ, thấy ngọt ngào nữa mà.

Thông cảm cho tôi, một người tầm thường của vùng đất bị quên lãng, bởi chiến tranh, bởi trắc trở địa lý, bởi những vướng bận vụn vặt đời thường. Khó khăn, lâu lắc lắm khách mới đến được, cũng khó khăn và lâu lắc khách mới trở lại, dịp để gieo thương nhớ, lỡ không kịp, biết còn có lần sau?

Thông cảm cho tôi, bởi cái cảm giác Bến Tre tôi không thể cứ ôm ấp mãi, tôi cần người để nói, Bến Tre dễ thương hen, để nhận được sự đồng tình, “Ừ, Bến Tre dễ thương”. Để nhìn vào họ, thấy niềm vui ngọt lành nhói lên trong mắt, thấy ký ức mơ màng trở về những chuyến phà.

Chuyến phà mang vẻ mặt cô gái sầu muộn làm cho nhịp sống đô thị ngẩn ngơ, dừng lại bên kia những con sông. Quãng thời gian nó chạy lòng vòng qua những cái cồn xanh um cây trái đủ để người ta rũ hết bụi đường. Và hít thở gió sông, và thấy lòng lành những vết. Và khi tách bờ Bến Tre, chuyến phà bỗng trở thành cô gái đang hò hẹn, một chút bâng quơ, một chút nhớ, và chút gì đó tuyệt vọng… Bởi qua bờ, lưu lạc trên đất khác, quay lưng lại với sông rồi, kẻ còn sông trong lòng thì vẫn nồng Bến Tre, nhưng cũng nhiều người lạt đi, phai đi. Bởi qua bờ, cuộc sống ồn ào chen chúc, sự mệt mỏi ngay lập tức ập vào, và khi ngoái nhìn, Thương đã mịt mù xa, như ở một thế giới khác.

Bến Tre, rốt cuộc chỉ còn là những cảm giác. Mềm, ấm và ngọt ngào.

Và câu chuyện về nó được viết lên bởi một người viết vụng về, cũng không sao tránh khỏi rời rạc và chắp vá, nó không phải một bài bút ký thông thường, theo khuôn mẫu thông thường, tôi đến, tôi đi lòng vòng, tôi thấy, tôi về. Bởi tôi không đến, cũng không đi đâu, không thấy, và tôi không về. Tôi ở dưới mặt đất, cảm giác trên ngọn dừa, những con đuông dừa rúc vào nách lá non, và trong tổ chim vắt vẻo, những con sẻ nhỏ đang khẻ mỏ chui ra khỏi trứng. Tôi ở bên một con sông, cảm giác bờ kia đang liêu xiêu bông bưởi rụng trên những chiếc lá mục trong vườn. Tôi soi mình xuống nước, cảm giác dưới đáy sâu kia phù sa đang nhảy múa, dịu dàng.

Tôi đang phân bua với mọi người tại sao tôi là một người miền Tây lạt, vì những dòng sông quê tôi đều ở sau lưng tôi. Hay sông luôn ở trước mặt, nhưng tôi đã quay lưng lại ?


KHÚC HÁT LÊN ĐƯỜNG

Tạp văn

Nguyễn Ngọc Tư


Có lần, giữa lưng đèo ở núi rừng Tây Bắc, xe bị mắc lầy, kẹt giữa con dốc dài, trong đống bùn nhão, bụng thì đói khủng khiếp, bên đường chỉ vài căn nhà lúp xúp của đồng bào, mà họ cũng đóng cửa đi nương. Đoàn người ngồi lê ngồi lếch, vạ vật dưới chân núi, chờ xe chuyên dụng đến gạt bùn giải cứu.

Em kéo tôi đi dạo, em nói ở đó nhăn nhó cũng vô ích. Chúng tôi rẽ vào con đường nhỏ xuống thung lũng, bên những cái rào hờ hững là vạt cải đang lên, mầm xanh nhuốt dưới mưa sương. Có một chòm nắng quét qua thung lũng, làm những rặng cây dưới kia cũng đổi màu. Em chắc lưỡi, hít hà, đẹp quá chừng ta ơi. Tôi gật đầu, và trong cái khoảnh khắc đó, tôi quên mình đang đói và chiếc xe đang nằm ì trên đống bùn. Tôi chỉ biết mình đang đứng trước vẻ đẹp chưa từng có trong đời. Một cậu bé từ trong con đường mòn trơn ướt từ dưới thung nhấp nhô hiện ra trong mưa lay phay, mắt cậu đen sâu hút, cây rựa cong cong vung vẩy trong tay, và trên vai là con gà trống ung dung đậu. Cậu đi qua, mắt hơi cười, và khi người khuất sau rặng cây rồi, tiếng gáy của con gà vẫn còn đọng từng giọt trên những dấu chân nhỏ. Em ngó tôi, hỏi, “cứ ngồi than thở trên kia thì làm sao thấy được những cái đẹp tình cờ này, hả chị?”

Tôi không trả lời, ngượng nghịu vì mình đã mất nửa giờ gắt gỏng, lo âu. Tôi tự hỏi, trong ba mươi phút đó, mình đã mất bao nhiêu cơ hội để khám phá vùng đất này. Tôi day qua định cảm ơn em, nhưng em đã phăm phăm đi đằng trước, cái ống quần kaki rất ngầu quệt vào cỏ, bê bết nước và bùn.

Chính em rủ tôi đi chuyến này. Lúc em gọi điện, tôi đã hỏi, sao đi được hả nhỏ ? Em nổi quạu, dễ lắm, chỉ cần xếp vài bộ đồ, nhịn nhậu nhẹt vài cữ, với chút tiền dành ra ấy, quảy ba lô lên vai, là tụi mình có thể tới bất cứ đâu bất cứ lúc nào. Không biết đường đi, thì hỏi. Sợ gì.

Lâu lắm tôi đã không đi, mất cảm giác. Bởi đi không phải là nhu cầu tối thiểu, như ăn, ngủ. Hôm nay đi không được, thì mai, thì mốt. Mà, lần khân tới khi già khú đế, không đi được cũng chết vì bệnh tật chứ không phải chết vì không đi. Vậy nên, tôi luôn bỏ lỡ những chuyến đi của cuộc đời mình. Đôi lúc, đã lên kế hoạch đi đâu đó, ừ, ngày mai đi. Quãng thời gian chờ sáng, tôi ôm cái gối ôm của mình, nghĩ, trời ơi, mai đi rồi, mình sẽ xa cái chỗ nằm quen, quán cafê quen, những bạn bè quen. Xuất hiện cái rào đầu tiên, sự quen thuộc bị xáo trộn. Rào thứ hai: đường xa, sông sâu cách trở. Rào thứ ba: nhớ nhà. Rào thứ tư: không ai đưa rước con đi học (hay lý do tương tự, không ai cho đàn gà ăn). Rào thứ năm: tiếc tiền. Và rào thứ sáu, thứ bảy thứ n quây kín tôi lại. Chuyến đi vào lúc sớm mai trở nên tuyệt vọng, mù mịt xa.

Và sự khao khát khám phá thế giới chung quanh đã không đủ mạnh để thôi thúc tôi lên đường. Nhưng nếu tôi vượt qua tất cả những cái rào đó, lúc bước chân lên xe, trong tôi sẽ xuất hiện một cái rào khác, khiến tôi trùng trình, nơi mình đến, có cái gì hay không ta? Mình đi xa vậy, mắc công vậy, tốn tiền vậy mà không có thu hoạch gì thì tiếc. Tiếc lắm.

Tôi cũng hỏi câu đó khi em sắp gác máy, em cười “có ai mà gặt được trước khi gieo hôn, hở chị?”. Tôi cũng cười. Em chuyên viết ký du khảo cho báo địa phương, đi nhiều, căn phòng em trong cơ quan ít khi mở cửa. Nghe nói có hồi em định lấy chồng, má em khóc quá chừng, “tội nghiệp con nhỏ, rồi phải chôn chân ở nhà”. Trong ý nghĩ của người mẹ, nếu con gái mình không đi lang thang điều đó đau khổ ngang bằng… chết. Nhưng có một vài trục trặc khiến đám cưới không diễn ra. Em đi rong để quên buồn, rồi sau này đi rong vì nghiện, không đi bứt rứt không yên. Những lần em chuẩn bị lên đường, tôi hay dặn, đi về nhớ kể cho nghe. Em cười, coi đó như một lời hẹn hò, khi về, sẽ có bữa ăn nhậu gì đó nho nhỏ, gọi là tiệc đón.

Không hiểu tại sao em chẳng nghĩ câu nói đó theo đúng nghĩa của nó. Việc đi để kể lại là không thể sao? Tôi tự hỏi khi xốc hành trang lên vai, đi cùng em.

Dẫn đoàn, đóng vai trò “cục đường” kéo mấy con kiến đằng sau là một anh nghệ sỹ nhiếp ảnh. “Cục đường” thường ngồi ở một ngọn đồi nào đó tiễn mặt trời chìm xuống dòng sông và sáng sau luôn dậy sớm chờ mặt trời lên. Tôi hay bước lên xe với cái mặt ngái ngủ. Một người viết văn thì cần những khoảnh khắc đó làm gì, tôi nghĩ. Em thì khác, xăng xái, nôn nao, em nói, “ba trăm sáu mươi lăm ngày mặt trời mọc ba trăm sáu mươi lăm kiểu khác nhau, thì như hôm qua em bị nhức đầu, nên mặt trời lên thấy khác, bữa nay đúng lúc mặt trời lên, biết đâu sẽ có đàn chim bay qua...”. Có lần, chúng tôi đi đón bình minh. Tôi ngủ gà gật, lâu lâu mở mắt nhìn thấy đang đi trên con đường nhỏ, lướt qua những ngôi nhà nhỏ, cái miếu thờ cũng nhỏ. Mở mắt ra lần nữa thấy mình đứng trước một cây cầu ọp ẹp bằng tre bắc qua kinh trên con đường dẫn ra một vùng đầm phá. Mùi rêu tanh nồng. Một cái chợ nhỏ họp bên bờ đầm. Mấy bà cụ bán khoai, bán xôi cười khoe hàm răng đen bóng, giọng Huế trên môi có vần có điệu, có ngằn có ngữ, nói như hát. Ngồi cạnh là mấy chị phụ nữ với những cái rổ con con cùm nụm cùm nịu ít cá tôm. Vài tia nắng lên xiên qua làn sương mỏng. Trẻ con xoắn quần đi lại dưới đầm, chân chìm vào mặt nước dày đặc rong tảo, thong dong như đi trên bộ. Đứa bé gái bồng em nhỏ đã ngủ say trên tay, như mèo con ì ạch tha chuột, đi về phía xóm.

Tôi đứng đó, ngây dại trước một bình minh trong vắt. Nhìn người dân thong dong lội lỏm bỏm dưới đầm, tôi hỏi, “ủa, đất ở đây không lún sao ta?”. Em cười, xoắn quần, tháo giày lội xuống. Một cách trả lời. Tôi làm theo, dầm chân vào buốt lạnh của nước và cát, thảng thốt nghĩ mình từ nay không còn thản nhiên, hài lòng với những bộ phim quảng bá du lịch chiếu trên ti vi.

Bởi cái vị nồng của biển, cái rộn rã ban mai, cái không khí trong lẻo này, hay sự buốt lạnh truyền lên từ gan bàn chân không ai kể cho ai được. Những năm dài quẩn quanh nhàm chán từ nhà tới cơ quan, từ cơ quan tới quán café, lười nhác đến nỗi chỉ ngồi ở một góc quen, với cái bàn quen, tôi khoe khoang là mình đã biết Huế với những bộ phim, những cuốn sách, với lăng tẩm cung điện, và vào một buổi sáng không hẹn, tôi đứng nhìn sự biết của mình tan đi trước cái đẹp của một miền quê.

Em thì đang hăm hở lội tuốt đằng kia, chào hỏi một chị mua nước ngọt chở ra căn chòi nhỏ giữa đầm khơi. Đó những người dịu dàng, em kể khi quay lại, vì họ ít khi nào để nước sánh ra khỏi những cái thùng.

Tinh tế đến từng chi tiết. Bỗng dưng tôi nhớ những lần dặn “về nhớ kể nghe chơi”, bản thân việc đó gây buồn, cho em và cho tôi. Sẽ không khó khăn gì, nếu em thuật lại, ngày thứ nhất đến đâu, nơi ấy có những cảnh đẹp nào, món ăn gì, cùng vài chuyện đáng nhớ nho nhỏ. Tiếp theo là hành trình của ngày thứ hai, thứ ba… Dĩ nhiên, những bức hình chụp bằng cái máy ảnh cà tàng của em cũng là một cách kể. Thác nước, khúc sông trôi, hoa phượng tím, bên bờ rào thưa có đứa trẻ chăn bò… Tôi gật gù gật gù, ừ đẹp quá, mắc cười quá, dễ thương quá.

Nhưng em đã mang về một dòng suối, cánh rừng, dòng sông… câm lặng. Em không thể xê dịch không gian và thời gian để đưa tôi tới cảm giác tan đi dưới dàn đồng ca rền rĩ, buốt nhức của những con ve mùa hạ, lẫn trong nó là cái âm thanh trong lẻo thanh thoát của dòng nước chảy lỏn lẻn qua khe đá. Và gió và nắng, chúng lung linh, sống động đến nỗi, ở trong nó người ta không bắt kịp bằng tất cả các giác quan của mình.

Sau vài chuyến đi rong, tôi nói tôi phải bắt đền em, vì mỗi sáng ra đường đúng lúc máy bay cũng ngang qua, tôi chênh chao quá. Bởi với tôi, nó là biểu tượng xê dịch, là bài hát lên đường. Em cười, lại rủ rê, “vài bữa xuống Rạch Gốc nè, xách ba lô đi cho vui”. Cái xã ven biển tôi đi công tác cả chục lần, nhưng đi với em mới thấy nó… đẹp đến giật mình. Em khiến tôi từ bỏ thói mặc cả, kiểu như nếu tôi đi thì tôi sẽ được gì, tôi “hy sinh” nhiều vậy thì tôi “có” gì? Đông Bắc hứa có núi và rừng. Dãi đất miền Trung hứa hẹn cát trắng và biển cả. Tây Nam Bộ hứa bằng những con người tử tế, dễ thương. Nhưng em chứng minh được một điều, nếu không nhận được lời hứa nào, tôi cũng thấy mình có nhiều. Đi là tới, là được, là có. Chẳng thể hứa một buổi trưa nóng rẫy, chúng tôi nhìn thấy bụi cỏ bên đường nở hoa trắng muốt, dù lá cỏ bị giẫm nát bởi những dấu chân trâu. Chẳng ai hứa, những gì chúng tôi sẽ nhìn thấy, cảm nhận suốt cuộc hành trình, tổ chim sẻ chon von trên vai pho tượng Phật, bài hát của những người yêu nhau trên những ngọn núi cao, những cụ già mót khoai bên rẫy, nụ cười của em bé Simacai khi một tay cầm chim đứng đái, tay kia vẫy khách không ngừng. Ai mà hứa được những cái đẹp, cái chua xót, xốn xang không ngừng tuôn chảy trên mỗi bước đường?

Và cứ mỗi lúc tôi đứng ngây ra trước vẻ đẹp bình dị của vùng đất nào đó, em kín đáo ngó tôi cười tinh quái, “mê rồi hả chị?”. Trong ba lô em có cái bản đồ xếp làm tám, mỗi khi em chỉ vào một chấm nhỏ nào trên đó, “chiều mai mình sẽ tới đây nè”, bỗng dưng tôi cảm giác có sương rơi.

Nhưng không phải lúc nào cũng có sương, có hoa, có nắng, có những cái đẹp rạng ngời. Luôn xảy ra những trục trặc không lường trước. Chẳng nhằm nhò gì, em biết thiền theo kiểu của mình. Không thèm nôn nóng hay cáu giận bởi những bất trắc, chiếc xe chết máy, bể bánh, hay khi lỡ chuyến tàu, hoặc thời gian chờ đò quá lâu… em sẽ rảo quanh, trò chuyện với người dân ở đó, tìm hiểu tên gọi của một loại hoa cỏ lạ. Có lần xe dừng trước đèn đỏ, em chỉ vào những người nhăn nhó sốt ruột đi xe máy đứng quanh, khều tôi “mắc gì phải vậy. Để dành ba mươi giây chờ đèn đỏ để nhớ tới một đứa bạn đã xa, hỏng phải tốt hơn sao?”.

Có cảm giác em không để trống bất cứ giây phút nào. Em luôn trong trạng-thái-sống. Em nói, còn sức thì đi rong ruổi xa xôi, đến khi ngồi xe hết nổi, em lội bộ lòng vòng ngắm tất cả những hẻm hóc, ngóc ngách trong thành phố. Và khi chân quá mỏi, em cũng bắc cái ghế ngồi trước cổng để nhìn mấy bà bán phở, bán tàu hủ, bán trái cây… mưu sinh trên đường.

Cả những vẻ đẹp bình thường quen thuộc đó, cũng phải biết khao khát, tìm kiếm và trải nghiệm mới có. Em nói vậy mặc dù không nói vậy.


HẸN TỚI BẠC ĐẦU

Nguyễn Ngọc Tư

.
.

Có lúc tôi thuộc lòng câu càm ràm đầu môi của má, “lúc già khổ lắm nghen…”. Quãng đó tôi mới sinh, còn ở cử, làm gì má cũng rầy, thò chân xuống giường má nói lúc già sẽ mỏi, liếc qua trang báo má cảnh cáo lúc già mắt mờ, nằm chán nhừ cả người nhưng mới ngồi dậy má cằn nhằn, lớn tuổi đau lưng cho mà coi…

Tôi giả bộ nghe lời má, nhưng nghĩ thầm, mình đâu có tính là sẽ sống tới… già, thật lòng. Mười năm trước tôi đã mơ tới viễn cảnh mình trở thành một bà già vui vẻ, quậy tưng với đám cháu. Năm năm trước, tôi thấy lo việc mình xấu sẵn, về già chắc xấu sâu sắc lắm, tốt nhất là đừng để ta già. Giờ thì tôi quên luôn chuyện mình sẽ già, quên là sẽ gặt những ngày từng gieo. Mất ý thức về một tương lai mà tôi sẽ có.

Bí quyết sống trường thọ. Bảy cách để tuổi già minh mẫn. Tuổi cao, sống chung cùng huyết áp. Những bài báo đại khái giống vậy, tôi bỏ qua, cảm thấy chúng không dành cho mình. Không lo việc chân lúc này đang bước có liên quan tới cái đầu gối bốn mươi năm sau. Hay miệng lúc này đang ăn liên quan tới răng bốn mươi năm nữa. Hay lúc này coi ti vi sẽ liên quan tới mắt bốn mươi năm sắp tới. Quy từng ấy năm ra ngày, thấy mù mịt gì đâu. Tôi hay nói vui với bạn bè, hẹn bạc đầu nghe đã sợ, thôi đừng có hẹn kiếp sau. Chẳng làm chi hết, chỉ nặng nề, ngơ ngác thêm thôi.

Cũng do nhiều lúc, hôm nay sống cho hôm nay còn chưa xong, lo chi xa ngái. Bữa nay vẫn còn nợ thằng con lời hứa đi công viên, nợ ba mấy bài thơ ông nhờ đánh máy giùm, đứa em họ nằm viện hai ngày rồi mà chưa đi thăm được, cuốn sách đang đọc dỡ, hoa sân sau sắp tàn mà tâm chưa yên để ngắm. Những việc đó chắc phải đến mai mới làm, nên nghĩ tới nhiều lắm là đến tối mai.

Trong một loạt ước mơ : trở thành… tỉ phú (dù chưa biết bằng cách nào), bỗng dưng xinh đẹp (vụ này còn mờ mịt hơn), lên đỉnh everest (còn gì tuyệt vọng bằng)… thì sống dai, sống thọ là thứ hy vọng không bao giờ tôi nghĩ tới. Tôi hơi cực đoan, nghĩ đời như chewing-gum, càng nhai lâu càng nhạt dần, nên tôi thích kết thúc như một viên kẹo, đầy dư vị ngọt ngào.

Nhưng sự rầy rà của má tôi đã nhắc một sự thật, có thể tôi sẽ già (với bao nhiêu là bệnh tật ho hen nếu hiện tại bây giờ cãi lời má), mùa xuân sẽ đến và đi ngoài ngõ, dù tôi có thích hay không. (Theo lời má) cái gì tôi làm hôm nay sẽ lãnh hậu quả lúc về già, nhân quả tại chỗ, khỏi chờ kiếp này kiếp nọ… Tôi phải đi cho hết cái đời xa thăm thẳm, dù nhiều khi sợ quá, phải giả bộ quên đi. Tôi sẽ trở thành bà già, chắc chắn. Vì má tôi nói vậy. Vì lúc này gặp mấy bà già thiệt ngộ.

Ví dụ như bà già này, trong truyện vui, có tên cướp kia xách súng lên cướp tàu điện ngầm, gã dọa không giao vàng vòng tiền bạc ra sẽ bị cưỡng hiếp không thương tiếc, một bà cụ móm mém cười khà khà, ậy, chú nói thì chú phải giữ lời nghen.

Ví dụ như bà già này, cũng trong truyện vui, có bà cụ một trăm hai mươi bốn tuổi tự dưng bị đau lưng, bà than với mấy đứa cháu chắt, nói “chắc cố sống hong thọ quá, bây ơi. Anh nhà báo kia lại phỏng vấn cụ, lúc ra về anh bịn rịn, “gặp cụ lần này không biết còn có lần sau…”. Bà cụ tỏ ra thương xót, “chú em còn trẻ, bị bệnh sao mà bi quan vậy ?”

Hay như bà già này, là chuyện thật, bà thím tôi chín mươi hai tuổi rồi, góa bụa bốn mươi năm, lúc này sáng sáng hay ngồi than, đêm qua có thằng cha nào đòi chun vô mùng tao, làm ngủ ngê không được gì hết. Những buổi chiều, bà rón rén đi xếp quần áo nhét chật cái túi vải, rồi thì thầm, “có người rủ tối nay trốn đi”, rồi ngồi bên cửa sổ đợi. Sáng hôm sau gặp bà đem hành lý cất vào tủ, hỏi bà sao còn ở đây, bà lại thầm thì, mấy đứa con còn nhỏ quá, bỏ đi tội tụi nó. Nghe vậy, đám con bà ngồi khóc, già mà còn khóc.

Lâu lắm, tôi mới lại tơ tưởng cái ngày mình trở thành bà già…


NGÀY ĐÙA

Nguyễn Ngọc Tư.

.

San có điện thoại. Chẳng sung sướng gì khi phải chạy cồng cộc qua hai mươi tư bậc thang lên tầng hai, mở cánh cửa kiếng mới vào được văn phòng nhà văn hoá huyện. Giọng bên kia máy hơi đứt quãng, nhừa nhựa:

- San ơi!

San thở cái phào:

- Chuyện gì đó, Phương...

- Anh nhớ em.

- Ừ!

- Nhớ thiệt. Anh thương em thiệt là thương.

San nhăn mặt:

- Đang tập thoại đoạn kịch nào vậy... Nói cứ y như thiệt.

San nghe Phương thở ngắn, rồi lặng đi, rồi thở dài:

- San nhớ uống thuốc nghen!

- Trời đất, bệnh gì mà uống...

- Dặn trước, mai mốt bịnh thì uống. Mai mốt bịnh, anh không dặn nữa.

- Trời đất – San bật cười - Không còn nữa em thôi nghen.

- Ừ … thôi. Vĩnh biệt. Anh từ giã em, anh chết. Anh thương em nhiều lắm thiệt mà, San.

San nhún vai, gác máy. Chị quay ra. Sao vậy ta... Phải mười năm trước, nghe được câu này của Phương, thể nào San cũng cảm động phát ứa nước mắt luôn cho mà coi. Bây giờ nghe buồn cười không chịu được. San nghĩ, tay Phương nầy hôm nay chắc rảnh rang, đem cả chuyện chết chóc ra đùa.

San nhận dựng một vở kịch cho nhà văn hoá huyện để đưa đi dự liên hoan văn hoá quần chúng toàn thành. Chị đã bỏ nhiều sô diễn ở thành phố. Không hiểu vì sao mình làm vậy. Có thể vì trả cái nghĩa ngày xưa, từ nơi nầy chị đi lên hoặc có thể chị muốn thay đổi không khí. Vì vậy mà chị bỏ cả máy di động ở nhà.

San và đám diễn viên đã tập đến đoạn kết. San làm việc cật lực, giọng khàn đi. Chị không có trong tay những diễn viên nổi tiếng, hiểu nghề, điều đó làm cho công việc của chị càng khó khăn hơn. Nhưng họ truyền cho chị niềm hứng thú từ cách diễn chân chất, mộc mạc, từ sự lăn xả bất chấp nhọc nhằn. Nhìn họ, chị nhìn thấy mình mười năm trước, đầy đam mê, khát vọng nhưng khờ dại, ngây thơ.

Mười năm trước, San gặp Phương cũng ở đây. Phương nổi tiếng và tập tễnh làm đạo diễn. San gọi Phương là thầy. San ngưỡng mộ Phương thiếu điều chiêm bao cũng thấy. Con người Phương hết thảy đều phiêu lãng, phong trần. Tóc dày lấp loáng bạc, hơi dài, mái trước vuốt ngược ra đằng sau. Thành ra đám tóc đó không bám vào đâu được, nó nằm bồng bềnh. Mắt Phương sâu róm (San tin rằng người nuôi tóc dài, móng tay dài sẽ yêu một tình yêu lâu dài). Miệng Phương cười khinh bạc. Nón quay ngược ra đằng sau. Quần áo bụi bậm. Móng tay dài. San hồi đó hay cười, hay nói líu lô. Hồn hậu, trẻ con. San trầm trồ:

- Làm nghệ sĩ nổi tiếng chắc sướng lắm hen, thầy...

Phương cười:

- Không, họ tội nghiệp lắm. À không, Phương đính chính lại, có một vài người tội nghiệp, như tôi.

San cười khì, “em không tin đâu, thầy sướng thấy mồ”. Phương bảo, khi nào San trở thành người nổi tiếng rồi San sẽ tin. Có lẽ, Phương là người đầu tiên nhìn thấy tài năng nghệ thuật tiềm ẩn trong San. Ba năm sau, San khẳng định mình trên sân khấu thành phố.

Rồi y như lời của Phương, San bắt đầu thấy tội nghiệp mình. San sống rất mệt mỏi vì không phân biệt nổi đâu là sàn diễn, đâu là cuộc đời. San thương Phương nhiều, nhiều lắm. Phương thì lúc nóng, lúc lạnh, lúc xa, lúc gần. Âu yếm nhau trên sân khấu, bước xuống hậu trường Phương than mà giọng chao chát nghe khẽ như hơi thở, “ước gì tôi nắm được tay em”. San chìa tay ra, cười, thì có ai cản đâu. Phương nhăn mặt, ”Tôi mà chạm vào người em thể nào tôi cũng lạc lòng.” San cười mà lòng nghe xót xót, như chừng Phương khao khát yêu mà không dám yêu, khao khát sống mà không dám sống. Phương trả lời phỏng vấn báo Sân khấu rằng: ”Tôi thèm hạnh phúc nhưng không cho phép mình hạnh phúc. Một tâm hồn đầy đủ sẽ không thể diễn được một tâm tư giằng xé. Vì nghệ thuật, tôi hy sinh cả cuộc đời mình.” San biết rằng đó là lời anh dành cho San. Nó cực đoan một chút. Có nhiều người hạnh phúc vẫn diễn rất hay. Nhưng diễn như ma ám, như điên, như say như Phương thì chưa một người nào làm được. Ở bất cứ vai nào, anh cũng diễn bằng sự giằng xé, bằng sự khao khát bị kìm nén. San vẫn còn nhớ tháng hai năm chín mốt, sân khấu thành phố dựng vở “Đèn không hắt bóng”, khi xua đuổi người yêu – San, viên bác sỹ cao ngạo, tội nghiệp của Phương đã lặng người quay đi, rơi nước mắt. Giới phê bình đánh giá khoảnh khắc xuất thần đó của Phương bằng hai từ “quái kiệt”. Lâu lâu, linh cảm hỏi San, có phải những giọt nước mắt ngày xưa ấy phải chăng dành cho mình.

San bắt đầu tập quên có Phương trong cuộc đời. Đó là lúc tự dưng San thấy mình kiệt sức. Cứ chịu đựng một vài lần như San đi rồi biết. Diễn xong Phương rủ San đi ăn cháo gà, San rối rít tẩy son phấn, ùa ra cửa, Phương đã về rồi. Phương hẹn lại nhà San chơi, San thắp đèn ngoài cổng ánh ỏi chờ cả ngày, Phương không tới. Gọi tìm Phương, Phương hỏi “Ủa, tôi có hứa sao...”. Từ Phương, San rút ra kinh nghiệm, thay vì phải ngồi nghĩ ngợi điên cái đầu, lời nào thật lời nào giả, tách bạch rõ ràng ra, mệt lắm, thôi đừng tin nhiều, hy vọng nhiều đỡ thấy thất vọng, mất mát.

San sống như vậy riết rồi quen. Không tâm huyết, kỳ vọng vào cái gì, không mơ một xa vời, không rút ruột ra tin ai, yêu ai. San thấy mình không vịn vào ai để sống và cũng không sống vì ai. San sắm sửa được cái vẻ lạnh lùng, khinh ngạo. Không còn nghe đau xót khi ngửi thấy mùi rượu, mùi thuốc lá phả ra nồng nàn từ Phương, không buồn khi Phương cà rỡn, âu yếm với cô gái khác, không nhớ khi một tuần chẳng gặp nhau. Thực lòng, chị nghĩ, Phương vẫn còn đó chớ mất mát đi đâu. Chỉ có lần, tim San thót lên nhói một cái khi thấy Phương ôm một nam diễn viên trong bóng tối. Ánh đèn sân khấu đã tắt. Có lẽ Phương thấy cô đơn lắm. Thương chút đó rồi thôi. Khi quên mất tiêu con San ngày xưa, về đây, chị bỗng gặp lại mình.

Buổi tập sáng San cho diễn viên nghỉ sớm, bụng San hơi cồn cào, San đổ thừa tại mình đói. Giờ nghỉ trưa, San không ngủ được, bồn chồn chờ đến đầu giờ chiều. Chị muốn lao vào làm việc ngay để quên một chuyện mơ hồ nào đó.
San lại có điện thoại.

San nhấm nhẳn nghỉ trong lòng, “Đâu có bao nhiêu người biết mình đang ở đây...”. Nhấc máy, giọng Ngạn, ”San ơi, đang ở đâu vậy...”. San cười: ”Gọi tới đây rồi mà không biết à... – San lấy giọng nghiêm khắc – Mình đang ở “ngoài vùng phủ sóng”. Giọng Ngạn hơi run rẩy, “San à, Phương chết rồi”. San cười ngằn ngặt. ”Ừ”. “Thiệt mà”. ”Ừ”. “San về ngay nghen”. San dập máy.

Xuống sàn tập, San dựng cảnh cuối của vở. Trúc, cô diễn viên đóng chính đang cố khóc để diễn cảnh cô con gái hư hỏng thương tiếc người cha vừa qua đời. San không nói khái niệm, định nghĩa gì hết, chị bảo:

- Em phải xuống nước mắt thật mềm, không có loại nước mắt nào dịu mềm bằng nước mắt chảy ra từ lòng hối hận.
Trúc khóc lại lần thứ hai thì San lại có điện thoại. Bên kia máy là Mai, người gọi có khác nhưng nội dung không khác. Mai bảo, Phương chết rồi. San vẫn ừ hử nhưng đã thôi cười. Vì bực mà thôi cười.

San tự hỏi, bữa nay là ngày gì vậy nè. Đám học trò diễn ồ lên, ”Bữa nay là ngày Cá Tháng Tư, người ta được quyền nói dối thoải mái mà chị”. San bật cười. Xem lại ngày hiển thị trên đồng hồ, ngày Một Tháng Tư. Cha mẹ ơi!

Ngày này, năm ngoái, cũng đám Ngạn, Mai báo Phương chết. San thiếu điều lộn ngược ruột gan chạy lại nhà Phương, nhìn thấy Phương đang sân sẩn ngồi Karaoke, San tức không há miệng nói được tiếng nào. Phương biết chuyện, Phương nhìn San lâu lắm. ”Tôi vẫn còn ở trong trái tim em sao...”. San bật cười, gờn gợn hỏi lại mình câu ấy. Nhìn Phương cười cười, chắc Phương lại nói chơi. Bởi vì, San và Phương ai lại không diễn một vai trong cuộc đời này.

Nhớ chuyện năm ngoái, San đinh ninh, năm nay mình sẽ không bị lừa nữa đâu. Nhưng chỉ lát sau, San có điện thoại. Lại cồng cộc chạy lên hai mươi bốn bậc thang, San nói trước “Đừng giỡn nữa mà”. Nhưng bên kia máy là đạo diễn Lưu, San giật mình hỏi lại. ”Có chuyện gì không thầy...”. Thầy Lưu bảo, Phương chết rồi. San biết thầy mình không bao giờ đùa. San đứng sững trong văn phòng nhà văn hoá. Một nhân viên trong phòng gọi San rất to, San tuyệt vọng đẩy cửa, nhưng cánh cửa vẫn im lìm. Có tiếng người nhắc, hãy kéo cửa về phía sau. San chen ra.

Trúc dẫn xe máy đưa San ra cổng. Trúc dặn chị chạy phải thiệt cẩn thận, đường đây về thành phố thì xa, đẩy trổ ra ngã tư là quốc lộ, xe cộ nhiều ghê lắm. San chạy đến ngã tư. Chị không biết ngả nào về thành phố. Chị chống chân xuống đường giữ cho chiếc xe được thăng bằng. Một nỗi gì đó chợt ứ đầy trong chị, muốn khóc mà không khóc được. Bao nhiêu nước mắt đã dành cho vai diễn, cho công chúng hết rồi, chị không còn giọt nào cho mình. Chị hiểu rằng vậy là vai diễn cuộc đời mình vừa hoàn tất. Bình sinh, không lúc nào chị hít thở, chị hoá thân mà trong chị không có một tình yêu cũ, không có Phương. Nó chìm lặng giữa muôn ngàn nỗi đau, nỗi thương tổn yêu thương chẳng được đền đáp bởi yêu thương. Lòng chị dửng dưng bởi Phương bao giờ cũng còn ở đó. Nhưng bây giờ Phương mất rồi, mất thật rồi. Sẽ không còn được thấy Phương phong trần, mệt mỏi, không nhìn thấy Phương cười, nghe Phương nói… Sẽ không được ôm Phương trong vòng tay dù chỉ là vai diễn. Chị dấn ga cho xe vọt lên và nấc nhọc nhằn. Đã có nước mắt. Chị thấy trước mặt mình nhoà đi, kiệt sức, chị gúc xuống giữa đường. Con đường Trúc dặn, xe cộ nhiều lắm.

Ở nhà Phương, bọn Ngạn, Lưu tụ lại đã rất đông, họ đang chờ đoạn cao điểm nhất của một ngày vui. Nhà Phương dọn dẹp sạch sẽ, trang hoàng lại. Không còn vỏ bia lon lổn nhổn, tàn thuốc lá bết vào bàn chân. Phương ngồi trên băng đá trước nhà, chỗ nầy khi San về, anh sẽ thấy San trước tiên khi chị vòng qua nhà ông già dân phố ở góc đường và rẽ vào đây. Anh sẽ tặng một bó hồng đẹp nhất cho San và nói với San rằng, mười năm, anh hy sinh San cho nghệ thuật là một điều không công bằng, rất không công bằng. Bởi San là tất cả cuộc sống của anh. Lẽ ra anh không nên đùa như thế nhưng trò đùa mới có ý nghĩa làm sao rằng một người đã sống lại vì tình yêu một người.

Nhưng San đã không bao giờ về nữa.

Hôm ấy là ngày một tháng Tư. Ngày nầy, người đời hay đùa lắm.


CHỈ GIÓ TRẢ LỜI CÂU HỎI

Nguyễn Ngọc Tư.

(Truyện ngắn từ sách mới của chị Tư - Không ai qua sông.)
..
Chớp lại lóe lên, chân trời phía tây thêm một lần rách. Dưới chùm chớp hằn học, Tây nghĩ, thêm mưa nữa là mình đủ bộ thê lương.

Nó đang ngồi bó gối trên một cái gờ che cửa sổ ở tầng bốn một chung cư cũ, nơi gần trời hơn đất. Ít nhất ngó trời không chóng mặt, như nhìn xuống một khoảng sân sau chằng chịt dây phơi. Đỡ lấy Tây là tấm bê-tông đâm ra khỏi vách rộng chừng bốn tấc, chiều dài hơn nửa thước, người thiết kế ra chi tiết này chắc không ngờ, ngoài tác dụng che nắng xiên mưa tạt vào cửa sổ, còn có thể giấu nhân tình.

Chị Hằng đã tống Tây lên đây qua đường cửa sổ, lúc nó vẫn chưa kịp mặc gì, “Ở yên trên đó”. Chị hốt gọn mớ quần áo vương vãi trên sàn nhà ấn vào tay nó, rồi đóng sập đôi cánh cửa. Tiếng xe anh Hùm đã tắt, cầu thang vang tiếng huýt sáo. Nghĩa là chỉ còn không đầy một phút nữa, chị Hằng phải xong việc vuốt phẳng vải trải giường, chỉnh trang phục, buộc tóc, rửa mặt bằng nước lạnh cho má bớt hồng, mắt dịu lửa. Âm thanh chùm chìa khóa quay trên ngón tay anh Hùm mỗi lúc một khoa trương. Lẫn trong những chiếc chìa khóa đủ hình dạng, là con dao bấm. “Lạnh lắm, toàn sát khí”, một lần chị Hằng kể, và cười. Đôi hàm răng ngắn làm nụ cười hơi ma mãnh.

Có vẻ như chẳng ai dọa được chị, chẳng gì khiến chị bớt ung dung, kể cả anh chồng giang hồ khét tiếng, người vẫn thường phì phèo điếu thuốc trong lúc chém thiên hạ và (đôi khi) bị thiên hạ chém, cai quản khu vực cảng cá và bến tàu. Dân thị xã vẫn dạt vào lề đường mỗi khi nghe tiếng xe phân khối lớn rùng rùng, điều khiển bởi một gã rằn ri từ đầu tới đuôi, cổ đeo nanh hổ, trên người khảm khắc đầy sẹo vết. “Ờ, coi bậm trợn vậy, nhưng giữa hai ngón cái không bằng trái ớt”, chị Hằng nói, hơi thở gây mê gáy thằng nhỏ xe ôm.

Lúc đó Tây chưa quen biết cái bớt son trên sườn trái người đàn bà sống nhiều hơn nó mười bảy năm, chưa biết da chị có thể hắt sáng cả khi đèn trong phòng tắt ngóm. Nhưng Tây cảm nhận được một cơ thể mát rượi từ mảng mỡ bụng chị luôn sà xuống, chòng chành cuối lưng nó. Gợi trong đầu thằng con trai thứ chất lỏng trong suốt, hơi sóng sánh, có thể khỏa ngập lên nó, làm đầy nó, nếu chìm vào. Nên Tây thích chị khách quen, không hoàn toàn vì chị hay cho thêm tiền xe.

Chẳng phải lúc nào chị Hằng cũng kêu Tây chở một vòng thu tiền góp, dù ưng nó nhất, khen nó ra dáng đàn ông nhất. Chị đi với nhiều xe ôm khác, anh Hùm khỏi ngờ vực lôi thôi. Nhưng chỉ Tây là được chị rủ lên nhà uống nước, xem thử cái giường có kêu không.

Rùng mình trên người chị Hằng một lần, Tây không cách nào từ chối lên nhà chị thử giường vài lần nữa, để thả lỏng mình vào thân thể bao dung. “Cùng lắm là chết chớ gì”, nó bảo vậy, khi chị lấy ngón trỏ ngoáy cái cúc cu khá ngầu, hỏi có sợ anh Hùm không. Nhưng đến khi tiếng xe bồ cào rung cả chung cư, Tây đứng đơ ra, nghĩ về cái cửa sau không bao giờ có. Chị Hằng, thuần thục như mọi khi, túm Tây nhét qua cửa sổ, bảo tránh ra ngoài ấy.

Khi những mạch đập đã dịu cơn sôi, nhớ lại diễn biến vụ kẹt ở lưng chừng, trong Tây có chút tức giận, với thằng Tây hèn nhát. Bị đâm vài dao thì có sao, mình đáng vậy. Có thế nào thì cũng giống những chuyện Tây đã từng gặp phải như đụng xe, té giàn giáo, gãy ngón tay, và nó chưa từng nghĩ ông trời bất công với mình.
Nhưng chị Hằng, người đàn bà vừa mới đây đã kịp rúc rích với chồng, giọng không chút ngượng ngập, cũng làm Tây tổn thương chút đỉnh. Nó thấy mình như mảnh rác, bị dọn dẹp bởi một tay chuyên nghiệp, chớp mắt đã bị đổ đi. Cái gờ che cửa sổ này, rốt cuộc có bao nhiêu người lấy làm chỗ trốn? Tây săm soi, thấy mảng vách chỗ nó tựa lưng vào không chút rêu.
Đổi thế ngồi, hòng cứu vãn đôi chân tê rần sắp mất cảm giác, Tây hơi thất vọng, thân hình dài ngoằng của nó xếp kiểu gì cũng thừa ra. Một bối cảnh mà nó nghĩ không đạo diễn nào thích, nhân vật bó mình chết trân giữa trời, không thoại, không trai gái. Dĩ nhiên thòng chân đòng đưa thì quá sướng, nhưng sao biết được chồng chị Hằng có bất thần tung cửa sổ và tóm lấy nó không. Đường ống nước ở ngoài tay với, anh Hùm chẳng tỏ vẻ gì sắp ra khỏi nhà, gờ che cửa sổ của tầng bốn thì xa và quá nhỏ để đỡ lấy nó nếu nhảy xuống. Tình cảnh không thể tệ hơn, cái quần ka-ki rách lai của Tây, trong lúc luống cuống nó đã làm rơi, vắt lên sợi cáp truyền hình.

Nghĩa là hết phương về.

Mọi thứ đang chống lại Tây, kể cả con nhỏ thừa nhiễm sắc thể đang chơi ở sân chung một dãy nhà cho mướn trọ, ngay bên dưới. Cái chổi lông gà trong tay, con nhỏ đang múa kiếm, đâm kẻ thù tưởng tượng hết sức dứt khoát, vẻ mặt nghiêm túc hứa hẹn nó sẽ hét ra trò nếu tình cờ ngó thấy Tây ngồi trên gờ cửa sổ, không mặc quần.

Rồi con nhỏ bỗng dưng biến mất, sự vắng vẻ của mảnh sân bên dưới cứ đầy lên, dâng ngập chỗ Tây ngồi. Giữa hai đùi gió lùa rười rượi, có chút xấu hổ khi nhìn thấy nửa dưới cơ thể mình phơi sáng. Không hiểu bởi cái quần đang phơ phất dưới kia, hay do những tiếng động ấm cúng lẫn vào tiếng cười của chị Hằng lùa qua vách, mà Tây cảm giác, nó bị bỏ rơi.

Cảm giác giống hệt như khi Tây nhìn người ta khép chặt mẹ trong bốn tấm ván, đem vùi xuống đất. Lúc đó Tây mười bốn tuổi, cảm thấy không ổn chút nào, những lần vô thức hỏi mẹ ơi đồng phục con đâu, mà không tiếng nói nào vọng lại. Không ổn khi cúng mở cửa mả, mặt mũi cha Tây tươi rói, ôm gì điện thoại. Giỗ đầu mẹ Tây xong, cha nó treo bảng bán nhà, dọn về sống chung với một người đàn bà xưng “má” với anh em Tây, mà tướng mạo không chút gì giống người mẹ bắt đầu bị mối mọt liếm láp.

Em gái Tây, rất nhanh, sà vào lòng má, hòa nhập ngay với đám trẻ khu Gò Mây, bình thản nói “mẹ con té lầu chết queo rồi” mỗi khi có người hỏi thăm. Chỉ Tây không thể bỏ rơi mẹ thêm lần nữa. Nó đã bỏ rơi mẹ khi chìm lún trong một chiếc ghế ở tiệm trò chơi điện tử, kệ bà mẹ trèo lên nóc nhà quét dọn lá mục ứ trên máng xối, mấy trận mưa rồi nước ngấm sàn, nhỏ giọt lên giường ngủ. Cú rơi sau đó, mọi người đoán mẹ Tây chắc vì bất cẩn trật chân, lại rủi té nhằm cái xác lu vỡ, mới chấn thương chí mạng. Giả thuyết ấy mạnh đến nỗi có thể thổi rạp cả một vườn cây, nhưng không yên ủi được Tây. “Biết đâu mẹ tự nhảy xuống”, ý nghĩ đó gặm nhấm nó.

Có lần ý nghĩ biến thành lời, lúc Tây gom quần áo bỏ nhà đi. Nó có thể thấy cha mình giãy giụa thế nào để phủi bỏ cái câu vừa nghe được, “ai dám chắc mẹ té là vì sơ sẩy ?”. Chẳng ích gì, ý nghĩ ấy đã bám riết lấy ông như một ký sinh trùng đói khát, lây lan nhanh sang người đàn bà sửng sốt bên máy giặt, và còn làm phiền họ dài dài.

Chỗ Tây kẹt lại bây giờ, cao hơn một chút so với mái nhà nó ngày xưa. Nhìn quanh không thấy khói, không thấy người, chỉ có những tiếng động. Ngay bên vách, nghe tiếng rau cháy xèo trong chảo mỡ, Tây không biết ai là người đứng bếp, mà giọng chị đang giòn chuyện một con nợ tính đường bỏ trốn, “mai anh xách mã tấu dằn mặt vợ chồng nó cho em”. Dưới kia một ông say lè nhè hát bậy gì mà mưa thấm ướt cây dù mưa giá buốt con cu, hai đứa nhỏ ẩu đả giành kem chuối, bà già nào đó ho như bứng cổ họng đi, tiếng rít thuốc lào, bình luận viên bóng đá hét lạc giọng vào không không vào.

Chắc là có nhiều âm thanh cuộc đời vẳng lại lúc mẹ đứng trên máng xối, nhưng dưới mái nhà của mẹ thì im phắc như nhà hoang. Phải có Tây và em gái, chỉ cần réo lên mẹ ơi giày thể thao đâu rồi, mẹ ơi anh Hai giật tóc con, chắc gì mẹ đã rơi.

Tây nghĩ vậy, thấy nặng trịch. Cảm giác như gờ che cửa sổ Tây đang ngồi sắp không đỡ nổi nó. Tây từng làm phụ hồ nên nó biết, người ta hay phẩy tay bỏ qua việc dùng vỉ sắt khi đúc bê-tông tấm che. Họ còn không thèm hồ cho láng, vô phước ngồi lên, mông in sâu những vết hằn.
Như Tây bây giờ. Cũng may áo nó dài quá nửa mông, nên lần vải cũng đỡ đần cho da thịt nó.
Nó đổi tư thế nằm ngửa, lấy lưng làm điểm tựa cho đầu và chân, người oặt ngược. Ở thế nhìn ngược, nó ngó những mái nhà lô xô chẳng có chút trật tự nào, giấu che những cuộc đời tầm thường, những vui buồn nhỏ mọn, những bi hài kịch.

Như chị Hằng vừa ngồi trong lòng Tây vừa cắt đậu bắp nấu súp lươn cho chồng. Như mẹ Tây lần đầu lôi thằng con từ tiệm chơi điện tử về, bà khóc rống lên sau mỗi nhát roi quất vào mông nó. Lúc đó cha Tây ở đâu, nó không nhớ nổi. Có thể cha nó đi làm, ngồi nhà hàng tiếp khách, hoặc công tác xa, hoặc có ở nhà cũng sẽ dắt xe đi, răng nghiến sít cái câu quen thuộc, “tôi ớn cái thứ người hở tí là nước mắt, thiệt, chán hết muốn về”.

Thường thì mỗi khi hồi tưởng có nguy cơ thành lũ lụt trong đầu. Tây thường đánh lạc hướng chúng bằng cách kiếm bạn xe ôm rủ nhậu, gọi cho vài cô gái quen qua sóng phát thanh những chương trình kiểu như Se mối chỉ hồng, cũng có khi nó cứ tạt bừa vào quán nước, coi nghệ sĩ tấu hài trên màn hình được phóng chiếu cực lớn. Nhưng kẹt ở một độ cao gần ba mươi mét so với mặt đất, không biết chừng nào có thể thoát được, Tây không cách nào chống đỡ được những ý nghĩ sôi trào.

Mẹ bất cẩn rơi, hay đã vươn vai sảng khoái trước khi thả mình, đôi chân nhẹ bâng như cuống lá vừa khô?

Dưới sân, con nhỏ thừa nhiễm sắc thể xuất hiện một lần nữa, nó cứ quay tròn cho chóng mặt rồi xỉu dần. Một lúc thì thấm mệt, nó dạng tay dạng chân nằm phơi ra. Khoảng cách giữa Tây và đứa nhỏ quá xa, nhưng Tây đoán nền trời nhiều mây đang in vào cặp mắt hơi xếch, mí lộn lên.
Tiếng động trong nhà chị Hằng nhỏ dần, mùi thức ăn cũng tan mất. Sau tiếng cười ré lên, người đàn bà thổn thức đầy nhạc tính, dường như họ đã trườn lên giường. Bỗng dưng nó cảm giác chị Hằng, những nóc nhà lô xô bên dưới, tiếng người, tổ chim treo tòn teng trên cây gòn chết khô đằng ngã tư, mọi thứ đang ở rất xa mình.

Giờ phút này, Tây thuộc về một đám mây sũng nước lừ lừ di chuyển tới, và sự tò mò ngộp thở, không biết cảm giác mẹ sao suốt dọc đường rơi?

Chới với trong nỗi sợ, hay nhắm hờ mắt nghe gió mỏng dần?

Em đi với tôi nghen…

Sáo muốn khóc. Câu nói này Sáo đã nghe lần đầu dễ chừng bảy năm trước, hồi chưa lấy chồng. Sáo đùng đưa chân khỏa nước trên sông, nói má em bệnh không ai lo. Lần thứ hai ngồi dưới chòm quao lập lòe đom đóm, nó nói má em nhận lễ của người ta rồi. Lần thứ ba là vào một mùa mưa, bữa đó đi chợ, đứng đụt mưa ở hiên nhà người ta, gió tạt làm hai ống quần sũng nước, Sáo bỗng nghe ai đó nói “em đi với tôi nghen…”, như tha thiết như thương hại, xót xa… Nó đi hết chặng đò rồi, về tới nhà vẫn còn nghe. Chục bữa sau vẫn nghe. Sáo không đi chợ nữa, cần gì thì chồng đi hoặc nhờ hàng xóm tiện thể mua giùm.

Nhưng Sáo có cài bao nhiêu cửa, có ngồi miết trong buồng thì vẫn nghe “hãy đi với tôi…”. Bằng thứ âm thanh chỉ mình nó biết, nó nói đâu có được, tui mắc nấu cơm cho chồng tui, người khác không biết ý ổng nấu ăn sẽ ấm ức lắm. Như bữa ở chợ Sáo nói mắc đi mua chỉ về cho chồng vá chài. Sáo luôn phải bận bịu, vướng víu vì ai đó, dù đôi lúc giữa đêm Sáo mặc lại áo, nó nghĩ nếu đi với Câu Nói thì giờ chắc mình được ngủ rồi.

Lần cuối cùng Sáo nghĩ tới chuyện nắm tay Câu Nói ra đi, là khi chồng Sáo nhảy lên chiếc xuồng câu bơi đi hái trộm ngò gai nêm canh cá Bạc Đầu. Nhìn theo anh rẽ lân tinh lấp lánh như con tôm mon men vào ven đó, Sáo nghĩ, nếu con cá, cọng ngò có thể làm anh vui vẻ tới vậy, thì không nó cũng không sao. Nó muốn có một đứa con được tạo thành bởi tình yêu chớ không phải bởi phép màu của cá. Đang nghĩ bùi ngùi bỗng có người tới gọi, chồng bây bị người ta đánh té xuống nước chết queo rồi. Sáo chôn cất cuộc đi, vì mắc tang tế, đòi công lý cho chồng, cúng quảy người nhà chồng. Chớ ai.

Hôm đó, Sáo chôn cất luôn những ý nghĩ chạy trốn vẩn vơ. Giờ người đàn ông này lại bảo, “Em đi với tôi nghen – Cũng câu nói hôm xưa, giờ nhuốm màu vô vọng – Chồng em có còn đâu…”. Sự vô vọng của năm chữ đằng sau phả hơi lạnh tới cả cái gật đầu của Sáo, ừ thì đi.

7

Cả hai không xếp hành lý, thậm chí không lấy ghe, cứ ào xuống nước bơi về phía bờ mà ai cũng biết là đã không còn bờ từ nước đuổi. Sau lưng, bè rau càng lúc càng rực rỡ. Ngọn đèn chong Sáo kê sát vách mùng giờ chắc đã bén lửa lan vào tận những đụn rơm phía ngoài. Người đàn ông bơi cạnh Sáo không một lần ngoái lại. Sáng hôm qua khi tiễn con gái nhỏ trở vô trong chợ, anh ta đã xiết nó đến nỗi nó kêu đau. Như không có lần sau. Giây phút đó Sáo nhận ra thứ anh ta quý nhất, đến nỗi sẵn sàng từ bỏ tất cả để có được. Là Sáo.

Nó rớt nước mắt. Đi cùng nó có gì vui đâu mà người này cứ đòi phải đi cho được, bảy năm trời không chịu thôi. Ừ vậy thì đi. Hai đứa bơi mãi trong ánh lân tinh réo rắt dìu dặt. Nước tràm trụa trên mặt, nước mặn xót mấy cái chân răng. Bơi đến kiệt sức, đến trống rỗng, đến mức có thể chìm trôi, có thể quên hết quá khứ. Chớ Sáo biết đi đâu với người đã vô tình làm chồng nó chết, bởi một cơn nóng giận, bởi một lầm lẫn, tưởng đạp rào là sẽ được bước qua.

Quanh hai con người đau đớn, cá Sầu Ngư đang nhơ nhởn họp bầy..."

- trích đoạn truyện Nước như nước mắt | Nguyễn Ngọc Tư.


ĂN CƠM MỘT MÌNH

Nguyễn Ngọc Tư.
.

Nhiều năm sau khi ông ngoại bạn qua đời, bạn bỗng hay mơ ước mình có cỗ máy thời gian trong một bộ phim hoạt hình trẻ nít, để quay lại ăn… cơm với ông.

Trong cái quá khứ có nhiều thứ đáng phải chỉnh sửa, bạn muốn làm chuyện đó trước tiên với những bữa cơm mà ông ngoại bạn phải lủi thủi ăn một mình, thức ăn nguội lạnh vì bạn dọn sẵn từ sớm để ra vườn cho khỏi vướng. Một kiểu ngược đãi hồn nhiên. Năm đó bạn mười sáu, hoặc nhỏ hơn như bạn vẫn thường ao ước, để chống chế ừ thì lúc đó mình còn non dại.

Chắc bạn cũng bực mình bực mẩy khi bỏ học về nhà ở hủ hỉ với ông già, chắc bạn cũng mặt mũi chù ụ khi lo cơm nước giặt giũ… Và khi nghe tiếng đũa khua bời rời sau vách bạn - mười - sáu - tuổi đã không mảy may chạnh lòng, chỉ nghĩ trời đất ơi mình lu bu công chuyện quá, làm cho xong đã… Lúc đó bạn vẫn ở quanh nhà, bên hè hay sau sàn nước nghe tiếng đũa chạm rời rã trên miệng chén biết đã già buổi sáng rồi. Lúc đó bạn không biết mình vừa nghe được âm thanh được xếp vào những âm thanh buồn nhất cuộc đời.

Cái chỗ khuyết bên vách nồi cơm sau bữa ăn của ông ngoại cũng vì vắng, mà cạn hều. Khi ông qua đời, bạn có đôi khi nghĩ rằng bạn đã để mất ông ngay từ những bữa cơm ông phải trợn trạo nhai trong hiu quạnh.

Ăn cơm một mình không phải là dễ chịu lắm. Bạn chỉ thấy rõ ràng điều đó khi dì Chín bán bánh bò lấy chồng ở tuổi bốn mươi, ở cái tuổi gặp một ông coi bộ tử tế là lấy ngay kẻo không kịp. Chín nói, để khỏi ăn cơm một mình. Hẳn phải có những lý do ấy ấy khác cho việc lấy chồng, nhưng cái cớ Chín đưa ra không cãi được. Chín chấp nhận trả giá cho việc đó bằng cách phải tần tảo gấp đôi để mua rượu cho ông chồng mới. Một bữa đi chợ bạn hỏi Chín có đáng không, bà chỉ cười ngời ngợi, trả lời trớt quớt, ổng rượu ghiền nhưng nhậu ở nhà không hà, cũng đỡ...

Mỗi lần sắp đi xa áy náy cảnh nhà bạn bèn lọ mọ nấu nồi khổ qua dồn thịt, cá đối kho mía… để sẵn trong tủ lạnh, người ta chỉ cần hâm lại tí là có cơm ăn. Lúc về thấy mọi thứ còn nguyên. Người ta nói ra tiệm ăn vui hơn. Bạn nhớ tới ông ngoại ứa nước mắt muộn màng.

Cuối mùa xuân bạn đi Đông Bắc Việt, một mình, kiểu trải nghiệm quái đản mà bạn từng ao ước. Thì đây, một mình, hưởng thụ đi, bầy đàn miết rồi... Bạn tha hồ nói chuyện với đá, âu yếm đàn bò và thả rong suy nghĩ trong những đám sương dày, nói chung là sướng. Chỉ mỗi một lần sập tối, quán ăn phố núi ngủ sớm, năn nỉ ỉ ôi mới mua được chút cơm cháy đáy nồi với trứng (tự) chiên. Chủ quán lầm lì bỏ đi rửa chén, ngồi mình mình với chỏng chơ bàn ghế, muỗng xước vào đáy dĩa mà nghe như xước trong lòng những âm thanh rởn óc. Nhớ ngay lập tức như ớt xát lên mấy vết đó, giờ này mấy đứa nhỏ với người ta không biết đã ăn xong chưa, trời ơi nhớ cái mâm cơm nhà mình lộn xộn ngổn ngang, khi thì nước đổ khi thì canh rơi rớt, trẻ con nhốn nháo đứa đòi món này đứa réo món kia. Gói trong chữ ẤM vẫn thấy thò bồi hồi ra một khúc.

Chủ quán ngó nửa dĩa cơm bỏ lại, hỏi sao bảo thích cơm cháy lắm mà. Bạn thưa thích lắm. Hồi nhỏ lên mâm là đào lấy cơm cháy, lúc hãy còn nóng giòn. Má sẽ rưới lên chén cơm ít nước cá kho, vài cái tóp mở còng queo beo béo. Má không bao giờ để bạn vừa ăn vừa hát, hoặc chỏi tay lên cằm, hoặc còng lưng xuống hoặc làm rơi rớt mấy hột cơm… Nhưng đó là những bữa cơm cháy cả nhà quây quần sau một ngày làm lụng tan tác, không phải một mình trên đất lạ và bạn một mình mếu máo nhai như trong miệng có nắm dăm bào.

Bạn từng thấy có nhà tới bữa cơm phải chờ nhau đông đủ. Cũng có nhà ai đói nấy ăn, cho tùy nghi, cho người đi về muộn khỏi mang cảm giác nặng nề. Nhưng mỗi lần ông ngoại từ ký ức chống gậy về, và bữa cơm trên cao nguyên đá, và người đàn bà bưng bánh tiêu bánh bò qua nhà hớn hở cầm trên tay chai rượu, và tuổi tác chất chồng và đôi lúc thấy mình dường như đi lạc trên đời… đã làm bạn nghiêng về phía mâm cơm náo động. Để tròng trành cho lắm cũng muốn níu lấy mà về kịp hẹn.

Ăn cơm một mình nghe vẳng lại tiếng mình thấy chỉ bóng mình cũng không phải dễ chịu lắm. Ừ.


MUA VÀI ĐỒNG NHỚ

Nguyễn Ngọc Tư.

.

Có đôi khi mất nửa giờ để đi xuyên qua cái thềm chợ chỉ rộng chừng ba mét, tôi tự hỏi, cái gì đã níu bước chân mình ? Mớ rổ nan xếp hàng, mấy chú gà con mới thay áo lá bồn chồn vỗ đôi cánh trụi, hay vì cảnh đôi vợ chồng tóc bạc bẻ gói xôi thành hai nửa để chia nhau. Hay tất cả những hình ảnh đó đã khiến tôi nửa bước nửa dừng ?!.

Một tháng vài ba lần, đôi vợ chồng già bán rổ lại tới cái chợ nhỏ bên đường. Ông mắt sâu, cao lòng khòng, tay chân xương xẩu nhô ra bén ngót, lúc cười thấy còn lơ phơ hai cái răng. Bà già nhỏ nhắn, mặt tròn mắt tròn, môi đỏ, miệng nhai trầu móm xọm. Những cái rổ úp thành hàng như những dấu ba chấm lẻ loi giữa cái trang giấy chợ đời nhốn nháo những dấu câu gấp rãi. Đôi lúc, có cái rổ ngửa ra, nụm nịu trong đó là mấy trái bình bát, lekiama chín vàng, vài chùm dâu… cuống còn dính dấp nhựa, như thể khi ông gánh mớ rổ trên vai, bà đi đằng sau tiện tay thấy gì hái nấy, cứ vậy mang ra chợ.

Nhìn những món hàng con con, tôi hình dung được mảnh vườn xa xôi đó. Những bụi tre bụi trúc, bình bát mọc theo mé đìa, vài cây vú sữa, vài cây lekima, vài cây dâu… Và chúng đều đã già, hay đất già mà kiệt trái, nhỏ teo. Có bầy gà, bầy vịt túc tắc chạy chơi giữa những rau cỏ dại. Rau đắng đất, rau má mọc cạnh mấy dây bí. Đôi vợ chồng già mang mảnh vườn bày ra nơi thềm chợ. Người đã từng quê đi qua ngây ngô nhớ, người chẳng dan díu gì cũng đứng lại ngậm ngùi. Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy rồi, mà họ còn vất vả mưu sinh, đôi bàn tay chai khô chi chít nhiều vết cắt. Cái rổ nan giá chỉ vài ngàn, thương quá mua về không biết dùng để làm gì, để đâu cho khỏi lạc lỏng giữa những những vật dụng hiện đại và hào nhoáng khác.

Ông bà già cũng vậy, ngồi ở chợ mà chỏng chơ, chực rơi khỏi chợ. Bởi hai mái đầu bạc trắng, bởi bộ đồ cũ kỹ quăn queo, bởi những món hàng quê mùa lỗi thời mà họ mang tới từ cái rạch Ổ Ó xa xôi ... Lạ lùng, có vẻ hai người không thấy buồn vì điều đó. Ngồi bên nhau, ông bà tươi rói nói cười, có khi ngặt ngẽo như trẻ con lên bảy lên mười. Mặt trời vói qua mái hiên quán hủ tiếu mì, ông già xích ra sau lưng bà già, che nắng. Củ khoai luộc luôn được bẻ làm hai nửa, rồi lại bẻ hai củ kế tiếp. Khách ghé qua, bà nói rổ này xài bền vô phương. Ông nói bả đương rổ tiếng tăm từ hồi con gái. Bà lại nói ổng nứt vành khéo, chắc chắn lắm. Ông lại nói, bả vót nan đều trân, đó, thím coi…

Nồng ấm và âu yếm. Bà ngồi bên phải thì ông già sẽ hơi nghiêng vai về bên phải. Hôm bà lụi hụi bên trái vai ông lệch hẳn về trái. Cái kiểu ngồi làm tôi vừa mắc cười vừa cảm động. Không cố tình, nhưng lúc nào hai ông bà cũng làm tôi đi chậm, bởi cái ngón trỏ trên tay ông bà còn nguyên cuộn vải cũ sờn dùng để vót nan, như thể sớm nay họ đang ngồi đan rổ thì nghe tiếng tàu chạy, vậy là họ xỏ dép mau mau đùm túm đi; bởi mấy con vịt con lông vàng như rạ đứng trong rổ lao nhao rỉa gạo nát trên đầu nhau; bởi mớ trái nhãn lồng chín cây này đã lâu ngày tôi mới nhìn thấy lại.

Và bởi hai ông bà nói năng duyên dáng, dùng nhiều chữ lạ. Ông nói, ngó người ta đi ăn xin lang thang lưới thưới thấy thương. Ông kể vụ mất trộm gà, nhà có con chó chậm chạp như bà già đi âm phủ, con chó này làm kiểng lâu quá rồi chắc ông phải làm gỏi thôi. Bà già nói bữa nay đi lúc trời còn lu, sương nhiểu hột ướt sượt cái đầu. Mấy nải chuối chín mùi rụng rún này ngọt mật phải biết. Bữa nay im trời dữ. Dì Hai buôn bán dễ ợt mà con, đâu có ke re cắc rắc từng đồng từng cắc. Hồi trẻ tui với ổng thương nhau bén chết, giờ già rồi, nên mần cũng thủng thẳng khẻ khọt thôi. Nhà mót dữ lắm cũng chỉ có hai mạng già, ăn láp váp ba hột cơm cho rồi bữa…

Ngồi nghe ông bà già nói chuyện, suốt đường về nhà tôi cứ thấp thỏm sợ quên luôn thì tiếc. Lúc ghi lại vào sổ tay thấy từ ngữ bỗng trơ, thiếu mất vẻ đẹp, sự sống động như khi chúng phát ra từ đôi môi héo móm, từ cái miệng phập phều chỉ có hai cái răng nằm xiêu lạc, và ánh mắt đã dần mờ đục nhưng vẫn hồn hậu hấp háy, hấp háy…

Những ngày đôi vợ chồng già không tới, qua thềm chợ tôi vẫn chậm, vì nhớ. Biền biệt một quãng ngày ngày, một sáng chỉ mình bà già quay lại, với gánh rổ nan toòng teng trên vai. Cái chợ chật chội nhưng rộng lòng nhón cho bà một khoảng trống nhỏ nhoi. Bà già chơ vơ ngồi đó, nắng rọi cái bóng lẻ thiệt buồn. Khách hỏi mua cái rổ, bà ngơ ngẩn, ờ ờ. Hỏi ông già đâu không thấy, bà ngơ ngẩn ờ ờ, bỗng dưng mắt kèm nhèm nước. Ngồi chợ không tha thiết bán mua, bà tới đây để nhớ người bạn đời đã về với đất rồi.

Nhưng sao khi đứng nhìn những buổi chợ tan ban trưa, khói nắng vẫn thường hiện lên trước mắt tôi một ảo ảnh, có ông già cao lỏng khỏng gánh mớ rổ ế đi trên đường, bà già nhỏ nhắn lúp xúp bên cạnh tay cầm cái nón lá quạt mồ hôi cho chồng, như tát cạn vũng nắng đi.


"Buổi này phim và đời khó thấy vết tích những hẻm hóc tăm tối lắt léo trong tâm hồn người. Bóng tối chừng như không thèm len lỏi, gió tối chừng như không thổi từng cơn, thấy ào ra là thành lũ thành bão. Cái ác chừng như sốt ruột, cũng ra tay nhanh như trở bánh phồng. Đi pháp đình hóng chuyện thường nghe ba chữ “ai mà ngờ…” vang bốn bức tường, nằm lềnh khênh trên nền gạch sờn mòn. Người ta không thấy dấu hiệu nào bất ổn, đáng ngại trước khi cô gái mặt mũi hiền queo kia, ông già cù lần nọ đứng trước vành móng ngựa.

Buổi này kiên nhẫn đâu mà nói phải quấy, ông chú ở quê ra than vậy. Cuối chiều vừa nhỏ nhẹ nhắc hàng xóm đừng đổ rác qua rào, tối lại họ trút thuốc rầy xuống ao nhà ông cho cá lật bụng chết trắng. Giờ vác đơn đi kiện, nhưng cầm xấp giấy tờ ông già thấy pháp luật xa quá chừng. Cái ao cá nhà hàng xóm thì gần, chỉ cần nửa đêm chui qua rào, đổ vài chai thuốc xuống là xong. Công bằng. Gọn lẹ.."
.........

BÂY GIỜ ĐÃ HẾT THÁNG GIÊNG

Nguyễn Ngọc Tư.

.

Bên xóm có bạn tập viết kịch bản phim.

Bạn hay qua nhà mình vò đầu bứt tóc vì không biết để nữ phụ hại nữ chính bằng cách nào, “phải kiếm thứ gì ác ác”. Suốt ba chục tập phim mà bạn định viết, chúng dằng dặc âm mưu hung hiểm mà biên kịch nhất định phải bày ra cho cô gái vượt qua chạm bờ hạnh phúc. Giống như tên phim, bạn miêu tả nhân vật cưng của mình y hệt bông giấy, mỏng manh càng nắng hạn càng rực rỡ, càng khắc nghiệt càng bền dai. Khổ cái, bạn không thông thạo những chi tiết, mánh khóe mà người dùng hại người, kinh điển kiểu bà dì ghẻ biểu Tấm trèo cây để cưa gốc cho té chết trong cổ tích. Mấy âm mưu mà bạn có thể nghĩ ra loanh quanh chỉ thả nhện lên giường, giăng dây giữa đường cho vấp té, trộn thuốc xổ vô ly chè, pha nước mắm vô dầu gội đầu thì không được đen tối nhức nhối lắm.

Mình không chối là thấy vui vui trong lúc bạn rầu. Vui như đứng trước vào một ao nước trong veo thấu đáy. Hay là đọc báo đi, mình xúi, ngày nào mà chẳng đăng vài vụ ác. Bạn ứ hự, giờ báo đưa toàn những tin gọn gàng rởn gáy. Mượn rượu chém con dâu bằng dao bầu. Giết người yêu cũ trong nhà nghỉ. Cãi nhau trong tiệc cưới, chú rễ đốt cô dâu. Phim của bạn thì để nhân vật túm tóc nhau bạn còn thấy đau. Bạn muốn cả nhân vật phản diện trong phim cũng có chất người, vừa đáng thương vừa đáng giận. Cái ác do nông nổi, lầm lẫn, còn có đường quay về.

Thôi thì coi phim nhiều vô, mình lại xúi, coi người ta tạo xung đột, thắt mở kiểu gì. Giữa tuần sau bạn khoe xong rồi, ân oán trong phim đã có dân giang hồ lo. Người đẹp phản diện chỉ cần rút điện thoại ra, nói “a lô, xử nó đi”, cùng với đuôi mắt rợn, gương mặt nanh ác, cái nhếch miệng hung hiểm. Cách giải quyết đó ở phim truyền hình xứ mình nhiều lắm. Sau cuộc gọi ngắn ngủn sẽ có vụ đụng xe, đốt nhà, hay bắt cóc. Chắc chắn nữ chính sẽ thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc cho tới tập cuối cùng.

Buổi này phim và đời khó thấy vết tích những hẻm hóc tăm tối lắt léo trong tâm hồn người. Bóng tối chừng như không thèm len lỏi, gió tối chừng như không thổi từng cơn, thấy ào ra là thành lũ thành bão. Cái ác chừng như sốt ruột, cũng ra tay nhanh như trở bánh phồng. Đi pháp đình hóng chuyện thường nghe ba chữ “ai mà ngờ…” vang bốn bức tường, nằm lềnh khênh trên nền gạch sờn mòn. Người ta không thấy dấu hiệu nào bất ổn, đáng ngại trước khi cô gái mặt mũi hiền queo kia, ông già cù lần nọ đứng trước vành móng ngựa.

Buổi này kiên nhẫn đâu mà nói phải quấy, ông chú ở quê ra than vậy. Cuối chiều vừa nhỏ nhẹ nhắc hàng xóm đừng đổ rác qua rào, tối lại họ trút thuốc rầy xuống ao nhà ông cho cá lật bụng chết trắng. Giờ vác đơn đi kiện, nhưng cầm xấp giấy tờ ông già thấy pháp luật xa quá chừng. Cái ao cá nhà hàng xóm thì gần, chỉ cần nửa đêm chui qua rào, đổ vài chai thuốc xuống là xong. Công bằng. Gọn lẹ.

Buổi này đến ăn miếng trả miếng cũng sốt ruột. Chuyện xưa kể có kẻ hàng chục năm nằm gai nếm mật để từng bước một đợi cơ hội rửa hận, thấy khó tin. Tối ngồi quán ốc nghe bàn bên rôm rả vụ án trộm dê nào đó xử hoài không xong, một anh chửi tục nói xách dao phay xử cho rồi, đỡ tốn thời gian tiền bạc. Nghe giọng mình ngờ là không phải do hơi bia. Bây giờ đã hết tháng Giêng, mùa người ta cướp lộc đền chùa đã lắng. Nhưng cơn sốt ruột vẫn còn dai dẳng. Người trong giới giải trí không lộ hàng thì cũng khỏa thân chụp ảnh bên nai, cho mau nổi tiếng.

Bây giờ đã hết tháng Giêng, kịch bản bạn viết cũng sắp xong, kết phim theo hướng gieo giang hồ sẽ gặp giang hồ. Tụi phản diện rốt cuộc sẽ bị mấy đại ca trở dao kề cổ. Phim cũng không bị chê là phi lý, vì giang hồ ngoài đời có mặt khắp nơi. Đòi nợ, đâm chém thuê, bảo kê thì quá thường, các đại ca còn có thể giải phóng mặt bằng, giải quyết tranh chấp đất đai, thừa kế.

Vốn sống thế giới ngầm thì bạn không lo, trong xóm có vài thằng nhỏ xăm trổ khắp mình, phì phèo thuốc lá tập tành làm dân anh chị. Thiếu gì tư liệu hay.


Yêu Người Ngóng Núi | Nguyễn Ngọc Tư.

"Có lẽ thành phố xấu xí từ trước khi anh tới, và sau đó vì yêu anh mà xấu xí hơn. Những con đường nghẹn vì người đông. Những dòng sông nghẹn vì rác rưỡi. Những ngọn gió nghẹn vì khói bụi. Những ban mai nghẹn trong tiếng còi xe. Bầu trời nghẹn vì những khối nhà cứng nhắc và khô khốc. Va chạm và cãi vã. Chen chúc và cáu kỉnh."

◄►

Bạn cũ ngồi than thở, nói ghét Sài Gòn lắm, chán Sài Gòn lắm, trời ơi, thèm ngồi giữa rơm rạ quê nhà lắm, nhớ Bé Năm Bé Chín lắm. Lần nào gặp nhau thì cũng nói nội dung đó, có lúc người nghe bực quá bèn hỏi vặt vẹo, nhớ sao không về. Bạn tròn mắt, về sao được, con cái học hành ở đây, công việc ở đây, miếng ăn ở đây.

Nghĩ, thương thành phố, thấy thành phố sao giống cô vợ dại dột, sống với anh chồng thẳng thừng tôi không yêu cô, nhưng rồi đến bữa cơm, anh ta lại về nhà với vẻ mặt quạu đeo, đói meo, vợ vẫn mỉm cười dọn lên những món ăn ngon nhất mà cô có. Vừa ăn chồng vừa nói tôi không yêu cô. Ăn no anh chồng vẫn nói tôi không yêu cô. Cô nàng mù quáng chỉ thản nhiên mỉm cười, lo toan nấu nướng cho bữa chiều, bữa tối.

Bằng cách đó, thành phố yêu anh. Phố cũng không cần anh đáp lại tình yêu, không cần tìm cách xóa sạch đi quá khứ, bởi cũng chẳng cách nào người ta quên bỏ được thời thơ ấu, mối tình đầu. Của rạ của rơm, của khói đốt đồng, vườn cau, rặng bần… bên mé rạch. Lũ cá rúc vào những cái vũng nước quánh đi dưới nắng. Bầy chim trao trảo lao xao kêu quanh quầy chuối chín cây. Ai đó cất tiếng gọi trẻ con về bữa cơm chiều, chén đũa khua trong cái mùi thơm quặn của nồi kho quẹt. Xao động đến từng chi tiết nhỏ.

Quê luôn ngọt như vị đường mía ngày xưa anh hay lén má giở nắp hủ lấy ngón tay chấm mút. Cả cái nghèo ngày đó cũng chẳng đến nỗi quắt quay, không có bánh kẹo ngon thì cây trái đã sẵn giành. Không có đồ chơi đẹp nhưng đã có thiên đường đồng bãi cho trẻ con chạy nhảy. Cho đến ngày anh đi khỏi, quê vẫn chưa làm anh tổn thương, hờn giận chút nào.

Nên trong anh còn nguyên vùng ký ức ngọt ngào và đằm thắm, mộng mị và êm đềm. Thành phố biết hết, nhưng thành phố không buồn tủi, dù nó chật và ngột ngạt, bức bối trong khoảng không nhỏ hẹp mịt mù khói bụi. Yêu anh, chấp nhận anh nghĩa là phố chấp nhận mình sẽ mất thêm một phần duyên dáng ít ỏi còn lại. Thêm rác, thêm bụi, thêm một chỗ ngồi, thêm một hơi thở…Chật chội hơn, ồn ả hơn, chen chúc hơn. Những ngày Tết, phố đẹp, thanh thản và nhàn tản nhất, thì anh lại không nhìn thấy, anh đã hớn hở sum vầy với quê.

Đón anh trở lại, vẫn là một nhan sắc mệt mỏi nhưng khao khát sống và yêu. Những lúc anh chán chường, thành phố xấu xí ngồi vỉa hè nướng những củ khoai thơm, trồng vài bụi chuối, hàng cau, qua một quán cafe nào, thấy bày biện những khung dệt chiếu, chiếc xuồng con, cái gàu dai, cây rơm nhỏ… Đôi lúc ở một góc đường, anh gặp bầy cào cào, chim sẻ thắt bằng lá dừa non. Đôi lúc ngang qua ngã tư, có bà già đầu đội khăn rằn xách cái bị bàng luống cuống trước dòng xe xuôi ngược. Không có tham vọng biến mình thành một chốn quê, nhưng thành phố đủ rộng lượng để anh công khai sự hoài nhớ của mình.

Và hồn nhiên sống như một người vọng núi kia núi nọ. Hàng me trút lá bên đường khiến anh nhớ mấy cây me già ở quê, giờ chắc thôi ra trái. Ánh đèn đường làm anh nhớ ngọn đuốc lá dừa cháy rập rờn những khuya tan hát ra về. Qua cầu anh nhớ sông quê. Cái kẹp tóc của cô vợ phố làm anh nhớ những mái tóc thả dài xuống tận thắt lưng xưa. Nhìn nhan sắc này để nhớ về một nhan sắc khác.

Mà anh thì cũng không chắc là miền nhớ còn nguyên nỗi quay quắt trong lòng. Anh có thật sự nhớ hay chỉ là cảm giác mặc cảm mình đã phụ rẫy, đã chạy trốn mà anh buột miệng nói nhớ cho quê đỡ tủi, cho mình đỡ thấy áy náy, như một niềm an ủi gửi lại nơi chân trần xối nắng. Má anh, Bé Ba Bé Sáu vẫn còn ở đó, mà anh bảo là không nhớ thì anh tệ. Anh có thật sự nhớ hay chỉ muốn giữ một lời hứa vu vơ hồi thẹn thò nhón ngón tay cô em nào ở bên rào, “làm gì làm tôi cũng không quên em đâu. Thiệt, tui thề…”. Có phải vì hình bóng quê quá sống động trong trẻo nên anh không thể yêu thành phố?

Bởi thành phố có gì đáng yêu đâu, ngay cả lúc dịu dàng nền nả nhất, thành phố lúc nửa đêm cũng không ngọt ngào như hoa nắng rụng lẫn trong hoa dừa rụng. Có lẽ thành phố xấu xí từ trước khi anh tới, và sau đó vì yêu anh mà xấu xí hơn. Những con đường nghẹn vì người đông. Những dòng sông nghẹn vì rác rưỡi. Những ngọn gió nghẹn vì khói bụi. Những ban mai nghẹn trong tiếng còi xe. Bầu trời nghẹn vì những khối nhà cứng nhắc và khô khốc. Va chạm và cãi vã. Chen chúc và cáu kỉnh.

Anh không thể yêu một cô vợ chỉ biết nấu ăn và giặt giũ, anh tìm kiếm một tâm hồn. Nhưng thành phố đã bày tỏ ngay khi anh mới gặp lần đầu, một tâm hồn rộng lượng, bao dung. Yêu cho đi mà không đòi hỏi nhận lại.

Đó chẳng phải là một vẻ đẹp sao, không đáng yêu, không đáng được đáp lời sao?



"Tôi thích những người phụ nữ tự tại và tự trọng đến mức coi như đàn ông biến mất rồi. Họ làm đẹp vì chính họ chứ không vì ánh nhìn của đàn ông, để quyến rũ đàn ông; họ làm việc vì họ muốn chớ không phải chứng tỏ mình cũng mạnh mẽ. Họ trèo thang tre xóc nóc lại mái nhà, bưng bê vô đất mấy chậu cây, đóng đinh lên tường treo mấy cái ảnh…
Thích gã nào thì cứ chạy đến bảo em thích anh rồi đó, anh nghĩ sao?"
..........

NHÂN DỊP CHỊ EM ĐÒI QUÀ..

Nguyễn Ngọc Tư.
.

Má tôi cả đời sống ở nông thôn. Bà chưa từng nhận hoa hay lời chúc tụng nào vào 8/3 hay 20/10. Nhưng má không buồn. Đám ruộng má tôi coi năm nào cũng trúng mùa hơn những đám ruộng trong xóm, vốn được chăm sóc bởi những ông nông dân thứ thiệt. Bà nhạy cảm với cây cỏ, nắng mưa, không chống chỏi thiên nhiên mà nương theo nó. Má tôi nổi tiếng coi trời giỏi, làm ruộng mà đoán định được thời tiết coi như chắc ăn một nửa mùa rồi. Bác Tám, dượng Hai, chú Sáu… ai cũng nể trọng má tôi, cũng ngóng coi má tôi rục rịch làm gì với đám lúa để học theo, chuyện gì có tay má là ngon lành cả. Má xa lạ với cái câu mà những người phụ nữ quê khác hay thở dài ở đầu môi, “cái phận đàn bà mình…”

Chị tôi thì lấy chồng về chợ đã hai mươi tám năm. Chị chưa từng nhận hoa hay những lời chúc tụng vào 8/3 hay 20/10. Chị cũng không buồn. Chồng chị tử tế nhưng cù lần, nghĩ cứ thương nhau là được, cần gì phải bày nhiều trò. Chị giúp anh coi xưởng đồ gỗ, quản hơn hai chục nhân công, lúc rảnh còn thiết kế ra nhiều hoa văn, chi tiết khá đẹp. Đồ gỗ của xưởng anh chị, vì vậy được ưa chuộng bởi tính độc đáo. Chị nói ít, không hay lườm nguýt nhưng làm gì chắc đó nói gì chắc đó, vậy mà chuyện lớn nhỏ gì chồng cũng tham khảo, và nếu có tranh cãi cũng trên tinh thần tương kính. Chưa có việc gì mà chị phải trông chờ chồng, với cái lý do người ta hay viện đến “bởi mình là đàn bà mà…”

Hai người phụ nữ này, tôi nghĩ, không cần ai giải phóng, bởi họ đã giải phóng mình rồi. Tôi hay thấy trên mạng những câu được cho là đầy nữ quyền, kiểu như “bạn có thể biến đàn ông thành nô lệ chỉ với chiếc xương quai xanh gợi tình”, mắc cười vì rốt cuộc chị em vẫn cứ đánh giá cao đàn ông, vẫn cứ lao tâm khổ trí làm sao để đánh gục được họ, đè đầu cưỡi cổ họ. Rốt cuộc phụ nữ luôn nói rằng mình giỏi nhưng khi ra bãi gửi xe vẫn chờ người đàn ông nào đó dắt xe ra giùm. Chờ đợi, kiểu gì thì cũng dở, dù là chờ đợi một cử chỉ ga lăng của người khác.

Tôi nghĩ rằng phụ nữ chỉ thực sự mạnh mẽ khi họ không còn ý thức cái sự - phụ -nữ của mình nữa. Mở báo ra thấy viết về những người phụ nữ làm phu hồ, làm cửu vạn, đạp xích lô… chúng ta hay kêu lên không thể như thế được họ là phụ nữ mà, nhưng biết đâu người trong cuộc ấy vặn lại “sao lại không?”. Cái tâm lý nháo nhác chờ quà tặng, đợi tiệc tùng vào những dịp 8/3, chị em dần đánh đồng ý nghĩa của “giải phóng” chính là “nổi loạn”, “đòi quyền lợi”. Cảm giác như một màn diễn đông người sau tiếng hô “action”, cứ 8/3 đàn ông bắt đầu nịnh nọt chiều chuộng quà cáp, phụ nữ tụ tập rủ nhau ngồi quán bia, tự huyễn hoặc mình là đang được coi trọng đã được giải phóng. Nhưng năm ba ngày thì thấm tháp vào đâu so với 365 ngày? Chính vì không thật lòng tôn trọng nên giờ đám đàn ông bắt đầu so đo, ủa sao không có ngày nào cho tụi tui? Dĩ nhiên đàn ông so đo thì cũng chẳng ra gì.

Tôi thích những người phụ nữ tự tại và tự trọng đến mức coi như đàn ông biến mất rồi. Họ làm đẹp vì chính họ chứ không vì ánh nhìn của đàn ông, để quyến rũ đàn ông; họ làm việc vì họ muốn chớ không phải chứng tỏ mình cũng mạnh mẽ. Họ trèo thang tre xóc nóc lại mái nhà, bưng bê vô đất mấy chậu cây, đóng đinh lên tường treo mấy cái ảnh… Thích gã nào thì cứ chạy đến bảo em thích anh rồi đó, anh nghĩ sao? Trong đầu họ không có khái niệm trâu và cột.

Sống được như thế thì không phải ngồi chờ được tặng quà.


CÓ CON THUYỀN ĐÃ BUÔNG BỜ...

Nguyễn Ngọc Tư.

.

Đàn bà, hễ mũi xấu thì mắt đẹp, mắt mũi xấu thì miệng đẹp, mặt xấu thì dáng đẹp, người xấu tâm hồn đẹp. Bằng cách này hay cách khác, họ cứ phải đẹp. Lúc giận cũng đẹp. Nho nghĩ vậy, trong lúc chạy xe theo chở Bế đi chợ.

Lúc đó Bế dùng dằng đằng trước, lưng cong, tay đánh đằng xa ngúc nga ngúc ngoắc. Cô đang bực mình. Hôm nay anh chủ về. Mà lúc nào cũng vậy, chưa thấy người đâu thì điện thoại đã rộn ràng, bảo muốn ăn món này món này. Anh chủ về được bảy ngày, cái thực đơn cũng dài ngoằng hai mươi mốt món. Anh nói với chị chủ, giản dị thôi em, anh thèm lẩu mắm ăn với rau đồng, kèo nèo bông súng, bánh xèo mà có đọt xoài, đọt lụa thì thích. Anh đang nhớ món lươn um lá nhào muốn chết được đây, cháo cá lóc nữa… Bế nghe nói lại, chỉ nhẩn nha hỏi “Mà ổng có nói nhớ chị không ?”. Chị chủ ngẩn ra, lắc đầu. Bế nổi quạu, “Vậy ổng về là do ổng muốn ăn chớ đâu phải nhớ vợ con. Đàn ông sao mà tệ… Thôi, đừng có nấu nướng gì mắc công”.

Nói vậy nhưng mới mờ sáng Bé đã lên tiếng vói vào phòng, “đi chợ à…”. Tiếng dép ngún nguẩy lép bép trên mặt sân. Chị chủ nhoài đầu nhìn ra thấy Bế đứng bên ngoài loay hoay, xủng xoảng dập cánh cỗng, bộ đồ thun bông tím nhập nhòa với giàn bông tỏi tím, như hoa trên cao đang rơi xuống người cô. Chị chủ kêu thằng em mới vừa ngủ dậy, “lấy xe chở chị Bế đi chợ…”

Mỗi cuối tuần, không đi làm, Nho hay đưa Bế đi chợ. Coi như sáng đó vui. Nho đậu xe ở gần đó, mua tờ báo để đọc lúc ngồi chờ, nhưng đôi khi chẳng đọc chữ nào vì mãi nhìn Bế. Cô thường đủng đỉnh đi ngược xuôi mấy vòng chợ, tung tăng như là đi dạo công viên. Cô rờ rẫm mấy trái dừa khô đã lột vỏ chỉ còn cái chóp nhỏ, cô cầm bó rau ngót lên rồi đặt xuống, cười ỏ ẻ với chị bán hàng, “nhớ vườn rau dưới quê quá…”. Nói rồi cô đi nựng nịu mấy trái khế của bà già kế bên. Có khi cô đi khỏi mấy trái bình bát chín đó rồi, cô bèn lùi lại mấy bước chân để nhìn cho kỹ. Việc không quay người lại đôi khi gây phiền, cô đụng vào người đi đằng sau.

Chợ họp ở trên một bờ kè cũ kỹ nằm dọc theo bến sông. Ai ngồi bán chỗ nào thì xuồng ghe xuồng buộc vô cái cọc đằng sau lưng. Phía trước là con đường đông đúc người xe qua lại. Bế lọt vào cái nơi chộn rộn nửa chợ nửa quê đó là trở nên hồn nhiên và lơ đãng. Ở nhà là một Bế khác, chỉn chu và nề nếp. Chút nữa anh chủ về chắc sẽ bị Bế rầy rà mấy câu vì đã không nói rằng anh nhớ vợ. Tính Bế vậy, thẳng đuột, nghĩ gì nói nấy. Rửa nước chợ ba năm rồi vẫn chưa hết quê. Anh rể của Nho cũng ngại cô giúp việc này, mấy lần về thăm nhà, gặp bạn cũ nhậu nhẹt, Bế cằn nhằn ngay, “Đi suốt. Có chút xíu thời gian cũng không dành trọn cho vợ con, cũng đem đi chia chác cho bạn bè…”. Anh ta ấm ức lắm, nhắc khéo, “giờ không biết ai là chủ nữa…”. Bế nguýt suýt rách đuôi mắt, có miệng làm chi mà thấy sai không nói…

Bế không giả vờ quỵ lụy, sợ sệt vì chút tiền công, cũng không mặc cảm cái vị trí nhỏ nhoi của mình, cô cứ ngang phè vậy. Có những ngày trống rỗng, con đến trường, chồng đi công tác, chị chủ buồn quá vô bếp nấu món này món nọ. Chị không cho Bế làm gì nhưng cô cứ lẻo đẻo đi theo. Trời, cháy chảo tôi hết rồi. Sao để khói dữ vậy, đen mấy cái đít nồi. Cái này bằng thủy tinh đó chị Hai, nhẹ tay giùm em cái. Hủ đường không phải để chỗ đó… Bế đứng đằng sau, tay chống nạnh, luôn miệng càu nhàu, như gian bếp này là của cô, những vật dụng kia là của cô, thắc thỏm như thiên đường của mình bị kẻ lạ xới tung lên. Chị chủ thì nhễ nhại mồ hôi, tóc rối xù lên, mặt mũi bê bết bột, trứng. Nho mắc cười, thấy chị gái mình giờ trở thành người giúp việc, bị hiếp đáp, cơ cực đáng thương.

Nho đi sớm về khuya, mấy lúc hiếm hoi ở nhà gác sách lên bụng nghe Bế đưa võng rọt rẹt phía sau, ca “Lá trầu xanh”. Đến câu cuối cùng, “mưa thu lạnh buốt khung trời, anh phụ em rồi em còn biết tin ai…” thì lần nào cũng vậy, nghe hụt hơi, nghe có chút nghẹn ngào. Có lần chị chủ hỏi sao buồn vậy, Bế nói, “bài buồn phải ca giọng buồn…”. Chị chủ cười, hay là nhớ người yêu dưới quê rồi. Bế đủng đỉnh đứng dậy, phủi đít vài ba cái, nói đi lau cầu thang, bụi quá sức.

Bế giữ trong lòng một vài bí mật, ngoài chuyện ai cũng biết : ba mươi hai tuổi, nhà trong đập Láng Cháo, cách thành phố này bốn giờ đi đò, thêm nửa giờ lội bộ. Chưa chồng, có vẻ ghét đàn ông. Không may Nho cũng nằm trong số đó, nên hay gặp phiền phức nếu lỡ đặt đôi giày không đúng chỗ, quần áo lộn xộn, sách vở để lung tung. Có lúc Nho cố tình bừa bộn để nghe Bế càm ràm cho vui. Nho cho rằng, chỉ có ai đó ôm ghì lấy Bế một lần, thì mới mong cô hết quay quắt, khắt khe. Trên đường qua chợ, ý nghĩ đó làm Nho buồn cười. Bế không hay gì hết, vẫn chị chị em em, ra vẻ người lớn, “bữa nay chờ hơi lâu nghen, cậu vô quán uống nước đi…”. Rất chị. Cũng phải, già hơn hai tuổi mà.

Bế vào chợ một mình, trong lòng bực bội đã tiêu tan. Cứ thấy những chị trong đồng ra, buôn bán thật thà, mặt mũi lam lũ là cô cảm giác đang ở quê nhà. Nên cái chỗ eo sèo đông đúc này cô coi như nơi chơi giỡn, như mọi khi. Và cũng như mọi khi, cô lơ đãng giẫm lên chân một chị, trong lúc lùi lại chỗ bán thớt mù u mà cô vô tình đi qua khỏi. Chị kia cong cái môi màu trái giếc lên, hỏi mắt để ở đâu. Thường thì nó ở trên mặt, nhưng giờ mắt Bế dán vô chỗ người đàn ông đang ngồi với những thớ gỗ tươi còn dính dấp mùn cưa, đứa bé gái ngồi dựa vào hông anh tay vịn chặt buồng dừa nước. Chỗ của họ còn bày thêm mấy nải chuối xiêm vừa chín tới. Bế hỏi vống lên, “chuối này bán sao đây ?, sau khi dựng vai lên, cô nhận thấy nó chảy xuống thiểu não quá, không đẹp.

Anh nọ ngẩng lên, cúi xuống, lại ngẩng lên, rồi lần này thì cúi xuống lâu hơn, nói giá tiền lục bục đâu đó trong miệng. Bế trả giá bằng giọng xẵng lè, nhận được một cái lắc đầu. Bế lại nhón ngón tay ấn miết vô một tấm thớt, như đây là con cá chứ không phải là gỗ, chưa hỏi giá cô đã ngang phè chê đắt. Mặt cô tỉnh bơ có vẻ không tha thiết mua. Mặt anh nọ cũng lầm lì không tha thiết bán. Chỉ đứa nhỏ nhìn Bế, nó hỏi giọng đờ đẫn và khẽ khàng, mua dừa không cô ?

Tất nhiên là không rồi, sáng nay Bế đi chợ để tìm lá chùm ruột non để ăn kèm món mắm lóc trộn thịt, nếu có bông so đũa thì mua một mớ về nấu canh chua. Bế không biết làm gì với dừa nước, với thớt mù u và những nải chuối xiêm thưa trái kia. Nhưng Bế không nỡ lắc đầu khi nhìn đứa nhỏ, cô nói :

- Mới năm sáu tuổi mà lanh quá… Giống ai mà lanh vậy con ?

- Giống má.

- Ủa, má đâu không thấy ?

Con nhỏ định há miệng ra trả lời thì người đàn ông xốc nách dựng thẳng nó dậy. Nó đờ ra, quên luôn. Bế không hỏi lại, cô muốn bỏ đi đi tìm lá chùm ruột, vì thím bán khoai lang ngồi cạnh đó đang ngó cô cười :

- Đừng thấy đàn ông ngồi chợ là xáp lại chọc ghẹo nghen…

Bế cũng cười, thấy lưng mỏi rã ra, vì đã phải dựng lên lâu quá, cô muốn thả nó trôi xuôi. Nhưng như vậy thì cô sẽ không có cái dáng dấp thong dong thành thị, cô lại ưỡn ngực và thẳng lưng lên. Bế giữ cái dáng đi mà cô cho là sang trọng, đủng đa đủng đỉnh ngược hết chợ, rồi lại quay xuống. Cô ngơ ngác ngiêng ngó, đâm sầm vào vài người trước mặt mình. Hôm nay chợ đông, và cô cứ bị xô tới, xô tới chỗ hai cha con anh thớt mù u. Cô thấy họ đang lóng ngóng dường như muốn dọn hàng đi. Bế kêu lên :

- Ủa, sao bỏ về sớm vậy ? Tôi muốn mua cái thớt mà. Anh bào gọt kỹ giùm. Bao nhiêu tiền cũng được…

Người đàn ông ngó trân vào Bế một thoáng, có lẽ nhận ra cô không nói chơi, anh trùng trình ngồi lại, lục lọi cây bào cóc. Cái thớt xù xì, vỏ cây còn bọc quanh (để cho người ta tin đây chính là mù u thứ thiệt) đã giữ người đàn ông nán lại thêm chút nữa. Bế hài lòng, chẳng tỏ ra nôn nóng, dù nắng đang lên, dù bao nhiêu công việc đang chờ cô ở nhà. Cô thản nhiên ngó quanh, lúc nhìn xuống chân bỗng dưng thấy tiếc. Sáng nay cô chỉ mang đôi dép nhựa. Sáng nay cô mặc bộ đồ thu tím rẻ tiền. Lẽ ra cô thay quần jean, áo thun, chân mang giày. Và điện thoại đi động nữa, lạ thiệt, sáng giờ không ai gọi cho cô (mà có ai ngoài chị chủ đâu). Bế nghĩ, giờ mà điện thoại cô reo một cái, cô sẽ tặng cho người gọi vài triệu xài chơi. Bế muốn gọi cho ai đó, sực nhớ từ ngày chị chủ cho lại cái điện thoại cũ này, Bế chỉ dùng chơi game và… nghe. Tài khoản trống rỗng, không còn tiền gọi đi. Nhưng Bế vẫn nhẩn nha rút điện thoại trong túi ra, nhón mấy ngón tay bấm vài phím bất kỳ, nhẩn nha nói với chính mình, em đây, em còn ở chợ, chút nữa em về, đừng có trông, vậy nghen.

Bế nhận ra mình chỉ có một khán giả duy nhất, là con bé gầy gò kia. Nó nhìn cô đăm đăm, mắt dại đi. Không phải vì say mê, mà nó đang sốt, đến đờ đẫn. Đôi môi nó đỏ nhừ, khô căng, như sắp rỉ máu ra. Bế kêu trời đất ơi, con nhỏ bệnh hả ? Anh nọ day qua nhìn con, lặng lẽ cúi đầu. Bế lại trời đất ơi, anh làm cha kiểu gì vậy ? Có cho nó uống thuốc chưa ? Sáng giờ ăn uống gì chưa ? Người đàn ông lại cúi đầu sâu hơn. Như thể anh mà ngước lên thì ánh nhìn Bế sẽ làm anh cháy mất, biến thành tro mất.

Bế khẳng khái kéo con bé lại với mình, cô xốc nó đi tới một hiệu thuốc chếch bên kia đường. Cô đi xấp xãi, lưng cong và vai xuôi. Con bé cứ nhìn cô rồi ngoái lại nhìn cha nó. Anh ta không chạy theo níu lại, anh ta chỉ trố mắt ngó theo. Bế mặc kệ, cô nắm bàn tay nhỏ nhắn và nóng ran của nó đi len giữa người, giữa xe, giữa ồn ả, giữa xô đẩy. Cô không cười khi nghe ông dược sỹ hỏi “Con chị bị làm sao ? Ấm đầu bao lâu rồi ?”.

Nho đứng bên đường, né nắng chỗ mái hiên của cây xăng, âm thầm coi kịch. Nữ diễn viên chính không thèm diễn vai thị dân nửa mùa nữa, để lại cái sân khấu là buổi chợ nghiêng nghiêng nắng, nháo nhác những gương mặt người. Lát sau, Bế quay lại với đứa bé đã hơi tươi tỉnh, sau khi ăn cháo, uống thuốc. Lúc ở quán nó còn bắt chuyện với cô, vẫn nhớ đã nợ cô một câu trả lời :

- Má con ở nhà, mới sanh em bé nhỏ xíu.

Bế ờ ờ, lúc đầu Bế tưởng má nó đã bỏ đi. Chuyện này hay xảy ra trong phim, vì không chịu được nghèo khó, chật vật, không chịu được những va chạm vụn vặt nên vợ bỏ nhà, để lại vài đứa con nheo nhóc. Chồng hối hận lắm, vừa nuôi con vừa nhớ tiếc mấy người con gái mình đã từng thương. Chồng thấy phải mình lấy cô kia thì may phước quá. Cô đó có xấu chút xíu, nhưng nghèo khó chịu quen rồi. Cô đó chắc lẳn, gọn lỏn như hột mít…

Bế thấy xao xuyến, bỗng dưng nhân vật tưởng tượng trong phim đó sao mà giống… cô. Cô còn tính chút nữa cô sẽ xuống chiếc ghe nhỏ, cùng về với cha con họ... Ý nghĩ kỳ cục làm cô bật cười trong lúc dùng mấy ngón tay chải tóc lại cho con nhỏ. Trao nó lại cho anh, cô thấy đôi mắt đứa nhỏ giống hệt ba, cả đôi mày rậm rì như có hai con sâu róm đen thủi bò ngang qua trán. Bế bỗng nói :

- Thôi cứ ngồi lại buôn bán đi, đừng để ý tôi, tự ái khỉ khô gì – Cô hất mặt về bên kia sông – Tôi đi về.

Người đàn ông chìa cho cô thớ gỗ, anh nói anh biết sự xuất hiện của mình đã làm cô mất vui, “Khỏi trả tiền, em đem về, lúc nào rảnh rỗi lấy dao ra băm nó như băm… thằng nào làm em buồn…”.

Bế ngó anh ta ỏ ẻ cười, hỏi nhỏ, ủa, làm vậy là hết buồn hả ? Dễ ợt vậy sao ? Nhưng cô vẫn sẽ sàng nhận lấy, cầm về, coi như kỷ niệm về một buổi chợ, kỷ niệm của hai cha con một người ở quê ra mà cô tình cờ gặp, kỷ niệm về một vùng đất xa xôi nào đó, có những cây mù u mọc hoang dại trong những bờ vườn, bãi sông, có những người con trai con gái e ấp khắc lên cây lời thề nguyện vợ chồng... Cô nhìn người đàn ông lần nữa, dịu dàng vuốt má con bé, chào tạm biệt nó rồi đưa tay ngoắc Nho.

Chở cô một đoạn, khi xe xuống dốc cầu, Nho bắt chuyện :

- Lúc nãy gặp lại người yêu cũ hả ?

- Ủa, sao biết hay vậy ? – Đang sững sốt, Bế bỗng trở giọng – Đâu phải.

“Giỡn chơi. Không phải thì thôi”, Nho nói, cảm giác gáy mình buồn buồn. Bế đằng sau thở ngập ngừng từng lát, từng lát mỏng. Bàn tay vịn vai Nho rất lạnh và hơi run. Ôi những người đàn bà, hễ mặt mũi xấu thì tay chân đẹp, cổ xấu thì lưng đẹp, người xấu thì tâm hồn đẹp. Bằng cách này hay cách khác, họ cứ phải đẹp. Lúc buồn cũng đẹp.

Hôm đó Nho lại nằm gối tay lên đầu lẩn thẩn lắng nghe trong bếp Bế nói dịu dàng, Bế cười nhẹ nhỏm. Trong cô có nỗi vui nào đó đang ngấm đầy dần, đầy dần. Buổi chiều, Nho giúp Bế bắc cái giàn cho mấy dây thiên lý leo qua khoảng sân, chợt cô nói nhỏ, “cây mù u ở góc ao mà chị với ảnh hay hẹn ra ngồi nói chuyện, ảnh cũng đốn rồi, thì chị còn nhớ thương chi nữa…”.

Từ đó, Nho không còn nghe Bế ca “Lá trầu xanh”.


NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA

Nguyễn Duy

.

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn
Chân nhang lấm láp, tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa...

Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Bao giờ cho đến mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ... mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta - chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.


Đường về Xẻo Đắng | Đảo | Nguyễn Ngọc Tư

"Đường về qua nhiều ngã ba ngã bảy, chị phải gọi suốt vì sợ Quý đi lạc*, biết đâu mà tìm. Sợi hồn thì mỏng và xanh."

- Quý, về với chị.

◄►
Chợ Vàm Nước Chảy đang ở trước mặt. Đây về nhà chừng non tiếng đồng hồ ngồi tàu cao tốc, nhưng trên chiếc xuồng máy Koler nghẹt mũi ho gà này năm chục cây số dằng dặc. Nghĩ chỗ đông người Quý không thoải mái, nên chị lấy xuồng máy cũ ở nhà. Xế chiều nắng xéo, hàng cây tràm nước đổ bóng dài xuống bãi sông. Đám cây kia là chỗ chị từng buộc xuồng dẫn Quý đi chợ Tết. Giữa Chạp, xuồng người này buộc níu xuồng người kia, chuyền qua năm bảy chiếc chân mới chạm bờ. Quý kêu nắm tay tui cho chắc.

Lần đó sắm cho Quý bộ đồ mới. Người ta biểu ê thằng nhỏ trật quần ra thử cho chắc, nhưng Quý lắc đầu, nói vừa rồi, vừa lắm, nhìn cái đã biết vừa. Mấy ngày sau đi ngang sào mới biết Quý phải khâu lận hai bên hông để quần khỏi rớt khỏi thân.
Quý, đi theo chị.

Không biết Quý lớn từ tết đó, hay từ cái tối lấy xuồng ra đầu kinh đón anh Hội về. Trời mưa, anh Hội nói sẵn ướt rồi anh lái máy cho, hai chị em cứ trùm áo cao su cho khỏi lạnh. Áo nhỏ, kéo Quý vào lòng, nhưng Quý cứ xích ra, người nóng đến mức mưa sượt qua vai bốc khói. Chừng nào anh Hội chưa đi Quý còn ngủ ngoài nhà củi. Anh Hội nói kệ nó, vách buồng mỏng quá, thằng nhỏ ngủ nhà anh thấy nhột lúc giường kêu.

Bên nhà chị ai cũng khen Quý trổ mã mau. Họ vẫn đọ đứa bé ốm teo vạch quần đái vô cây ớt nhà chị hôm rước dâu với Quý sau này, như phù phép của ông trời. Cứ cách tuần đã thấy khác. Thằng nhỏ lớn như thổi, cách nói của họ làm chị nghĩ tới một ngày nào đó Quý sẽ nổ tung.

Quý, đi theo chị.

Vừa nãy qua Ông Đơn. Xứ mình lơ ngơ đi dễ lạc. Những ngã ba sông thường giống nhau, cũng mấy chòm nhà, vài tiệm tạp hóa, một cây cầu trắng toát bấm ngón nhón hai bờ, ở giữa là nước chảy, đất lở xồm xoàm. Lần đó nhớ anh Hội quá, đi lên huyện thăm mà không cho anh hay trước. Từ hồi lấy anh, chưa bao giờ chị có cảm giác căn nhà cuối dãy tập thể ấy là mái ấm của mình, khi bất ngờ xô cửa vô vừa hay linh cảm đó là thật. Xõa trên bắp tay anh là một mái tóc đẫm mồ hôi khác. Cả anh cũng không phải của mình, chị nghĩ vậy, bỏ về. Không nhớ trôi giạt kiểu nào mà lạc tới miệt đồng Chó Ngáp. Cái mặt ràn rụa nước mắt chị gỡ ra quăng xuống nước, lay lắt chìm dần. Con đàn bà đó tận tụy làm dâu, vắng chồng suốt năm năm, giờ chết nước.
Quay lại nửa đường thì gặp Quý chạy trên bờ, mừng quýnh nói “má lo”. “Còn Quý ?”, chị hỏi, và nhận lại một cái nhìn không đáy.

Quý, đi theo chị.

Quãng này hồi Quý đi còn vắng, vạch đám lá ra không thấy mặt người, giờ nhiều quán xá mọc hai bên sông. Con bạn chị cũng cất tiệm tạp hóa ở đây. Bận đi chị đã tấp vô đổ dầu cho đầy, chuyến về có Quý không tiện ghé. Bạn ái ngại hỏi có phải đi đón thằng nhỏ ? Chị gật đầu, chuyện Quý về có gì phải giấu. Con bạn lèo nhèo, “Đáng lẽ ông Hội phải đi, em ruột ổng mà…”.
Chồng tao mắc coi đám kiểng, chị nói, giọng không chút mỉa mai. Anh Hội bận uốn tỉa mớ cây chùm rụm thành rồng phun ngọc, nai ăn cỏ. Từ ở huyện về, anh Hội cự tuyệt việc ngẫng đầu lên. Đánh cờ cúi mặt, ăn cơm cúi mặt, thời gian còn lại anh cúi mặt lụi hụi với mớ cây. Chẳng biết vì không muốn nhìn mặt chị hay sợ ánh nhìn ngờ ngợ của xóm giềng. Bán loạt kiểng này lại chăm chút cho loạt khác. Những cái cây, như anh Hội nói không biết phản bội bao giờ, uốn bề nào tụi nó xuôi theo bề nấy. Vai chị gánh một phần của câu nói ấy, phần còn lại chia cho mớ nhân loại đã xui đàn bà giăng bẫy hắt anh về vườn, làm tan tành giấc mơ quan huyện.

“Không ai muốn có đứa em như tôi”, có lần chị đi thăm, Quý nói vậy. “Quý thì có sao ?”, chị hỏi. Quý cụp mắt xuống đôi bàn tay chai, “Tụi mình biết mà”. Anh em Quý không giống nhau, nhưng cái cười nghiệt ngã thì một khuôn, xách méo biến dạng cả gương mặt. Lúc bước qua cánh cửa sắt, Quý quyết liệt bảo, “Đừng tới thăm tôi nữa. Nhìn thấy chị tôi muốn chết”. Nhưng giờ chị không đi đón Quý thì còn ai, má cũng về nằm trong đất rồi.

Quý, về với chị.

Bữa họ đưa Quý đi, chị đã chân không đi theo tới cây ô môi gãy ngọn đứng kia. Không phải vì vượt qua cái cây là ra khỏi Xẻo Đắng mà chị dừng lại. Chỉ vì ở đó tiếng ca nô thật sự tuyệt mù, cả sóng cũng không còn gợn. Mặt sông yên, rách bao nhiêu nó cũng tự vá lành. Người ta mà làm được vậy hay biết bao nhiêu. Không oán không thù.

Bộ đồ Quý mặc hôm đó, sáng nay nhận lại, chị thấy vẫn mới tinh từng nếp gấp. Họ nói gã bạn tù truyền bệnh tử sang Quý cũng đã chết cách đây một năm. “Về nhà trước hạn”, họ đùa và kịp nhận ra chẳng vui gì. Chị nói, “Quý không oán gì người đó đâu”. Kịp dừng lại, không thì đã nói chuyện Quý cũng chẳng oán cái án oan mười bốn năm tù. Chữ “oan” đó, ai nghe cũng phì cười. Quý nhận tội rồi, oan ngã nào.

Quý, đi theo chị.

Bên bờ ai đó ới lên, “Thằng Quý có dưới xuồng không ?”. Nghe thương xót nhuốm trong giọng nói đó, tuyệt không có chút nào ghét bỏ. “Dạ Quý ở đây”, tiếng chị mở đường cho những bước chân rùng rùng về phía nhà, cùng chiều với hướng mũi xuồng lướt tới.

Lúc Quý bị đưa đi cũng tở phở xóm làng. Người ta đổ ra chật bến. Mấy đứa con nít biếng ăn bị dọa sẽ bị ném xuống ca nô đó, không có ngày trở về. Những hạt rơi vãi được xâu thành một chuỗi mang tên tội ác. Cái áo Quý đẫm máu người máu mình chôn dưới gốc quao. Xác con gái ông chủ nhà máy đường nằm cách chỗ ấy đúng một công đất. Buổi sáng hai bên đôi co chuyện mấy công mía bị dìm giá. Vai Quý còn những vết cào xước của móng tay. Một người câu đêm thấy Quý ghé ghì chặt người đàn bà, rồi biến mất trong khu mả lạng. Cả đêm ấy Quý không về.
Không phải Quý đâu, chị nói. Mấy ông pháp luật cười lạt, đâu chỉ nói tin là đủ. “Bà già nói cô về bên nhà ăn giỗ, chứng cớ nào lại dám chắc như bắp rang ?”. Nhưng cả đêm qua tôi ở cùng với Quý. Trong những giấc mơ chín năm qua, tiếng thét đó rúm ró giữa ngàn con mắt trong cây trong đất, mắt Quý đầy vẻ khẩn cầu kệ tôi đừng nói mắt Hội vằn tia máu định vùi tôi xuống sình sao mắt mẹ đục ngầu ông trời có thấu. Tiếng dội của nó rách vách lòng. Không bao giờ vượt thoát qua môi.

Quý, đi theo chị.

Bến nhà mình đây, xóm giềng đây, Quý sẽ thấy ngờ ngợ nửa lạ nửa quen vì Xẻo Đắng đã đón về nhiều dâu rễ mới. Anh Hội kia, người vừa ngẩng lên ba mươi giây để chém chị bằng một nhát nhìn bén lẹm “vừa lòng cô rồi đó”. Và đây là khu mộ, nơi Quý sẽ nằm lùi sau ba má vài bước chân. Cuối liếp là bào thai tám tháng tuổi chết lưu chị chưa kịp đặt tên. Thêm Quý nữa, tất cả những gì liên quan đến một đêm đều rã rơi thành đất. Chỉ là không tin được vùi dưới kia là cậu con trai mới lớn đã nổ tung trong chị, đến nỗi không hay vai xước, sương khuya và áo xống bỏ quên lại trên gò.

Đường về qua nhiều ngã ba ngã bảy, chị phải gọi suốt vì sợ Quý đi lạc*, biết đâu mà tìm. Sợi hồn thì mỏng và xanh.

___________

(*) Theo phong tập cũ, mỗi khi chở người chết về nhà, người thân phải gọi hồn theo.


Coi Tay Vào Sáng Mưa | Đảo | Nguyễn Ngọc Tư

"-Con ơi, để lộ cơ trời thì trời có tha cho không?
Câu nói đó ông già nhắc đi nhắc lại, nhưng bà đã để lọt qua tai kia bởi ngây ngất với cái quyền lực mà mình đang có: một sứ giả đi về giữa hai cõi thánh người, đọc những tương lai. Bất hạnh mà bà gặp trong đời đều có lý do của nó."

◄►

Người đó đến nhà và mang bàn tay xòe ngửa trước mặt bà. Nghe nói cô Năm Nguyệt giỏi coi tay, vậy đọc giùm thằng đàn em tôi vận số này. Anh ta vừa nói vừa giắt tiền quẻ lên đĩa trái cây đặt ở bàn thờ Phật. Bắp tay xăm bò cạp của người đó săn cuộn khi cắm phập cây dao nhỏ xuống mặt bàn gỗ, cán rung lật bật, như xiên qua bất cứ lời từ chối nào. Cô bỏ nghề cũng đã lâu. Người ta không còn nườm nượp lui tới để hỏi coi đời mình rủi hay may. Khách sáng nay bất chấp.

Cửa nhà vẫn mở, mưa xiên li ti lên đôi dép xỏ ngón bẩn thỉu của khách, nhưng bà thầy bị cầm tù vào bàn tay đang chìa ra kia. Bàn tay tái xanh và lạnh, từng ngón như sắp rã ra, bật lên cái bớt đỏ trên cổ tay, như vết đứt mở miệng. Nó thôi miên bà, để mặc điện thoại bàn kêu ré lên từng hồi rồi tắt lịm đi trong mòn mỏi. Chuông tạnh, nghe có tiếng thằn lằn rơi phịch xuống.

- Lần nào coi tay cho người ta cô cũng khóc như vầy sao. Cũng lạ à nghen. Bao nhiêu nước mắt cho đủ ? - Người đó cười khủng khỉnh, như đang coi một vở kịch vụng về - Thằng đàn em tôi linh thiệt, nó nói thế nào cô Năm cũng khóc lóc.

Bà đã tìm kiếm, mong được gặp lại từ những vị khách bước vào nhà mình một bàn tay giống hệt như vầy. Cái bớt đỏ ở cổ tay, và lóng cuối cùng của ngón út bị gù do lần nọ bị đứt sâu, bó bằng vải xé ra từ vạt áo cũ, không nẹp nên cong queo khi liền sẹo. Ngón trỏ bà di theo những đường chỉ tay đứt quãng, nghe cái lạnh của bàn tay kia ngấu vào người. Những vết chai trên ấy rắn đanh như đá. Không phải bàn tay của kẻ vẽ tranh. Bà ước mình đoán sai. Không phải chủ nhân của bàn tay kia thuở nhỏ chịu cảnh nghèo, nó muốn một hộp bút chì màu mà bị bà mẹ từ chối. Không phải người ấy bị lạc mẹ hồi tám tuổi, chịu trôi nổi giữa đời.
Sao nó trở lại, bằng cách này ?!

Chẳng còn nhớ đây là bàn tay thứ bao nhiêu được bà cầm lên săm soi để dò đoán cuộc đời của chủ nhân nó, kể từ lúc bà lục lọi được trong tủ sách của ông nội mình bộ mười ba quyển Thuật pháp nhân tướng học. Con bé mười sáu tuổi nhận ra mọi bộ phận trên cơ thể đều biết nói, đều có ý nghĩa trong cuộc đời. Rủi hay may, suôn sẻ hay truân chuyên đều hiện lên ở từng chi tiết nhỏ. Tóc nói mũi nói đuôi mày nói, vành tai nói, nếu ta biết cách đọc. Bàn tay không chỉ để nắm tay mà phơi bày số mệnh. Ông nội bà đã phạm sai lầm vì đã không đốt hết bộ sách ấy trước khi cháu gái mình trở thành thầy bói lẫy lừng.

- Con ơi, để lộ cơ trời thì trời có tha cho không ?

Câu nói đó ông già nhắc đi nhắc lại, nhưng bà đã để lọt qua tai kia bởi ngây ngất với cái quyền lực mà mình đang có : một vị thánh ở giữa các cõi làm sứ giả của trời, đọc những dấu hiệu giúp nhiều tín đồ mê mụ biết trước tương lai. Bất hạnh mà bà gặp trong đời đều có lý do. Bà lấy phải một tay thợ mộc nghiện rượu vì không coi lấy chồng là quan trọng, chỉ cần mượn giống để kiếm đứa con. Bà muộn con là do tinh trùng của chồng xỉn hết, làm gì có thứ gì ngâm trong rượu mà còn sống. Bà nghèo bởi mải mê làm phước giúp đời.
Một ngày bà về sụp lạy trước mộ ông nội mình, nói con tin có trời rồi. Đứa con mà bà chắt chiu cầu khẩn trước bao nhiêu đền đài bị lạc mất ở chợ Sương. Thằng bé giảy nảy đòi hộp bút màu, một thứ không ăn được. Với bà hồi ấy, bất cứ gì không ăn được đều không quan trọng. Nhà dột mới quan trọng. Chạy gạo bữa mai mới quan trọng. Vẽ lên giấy những ảnh hình sặc sỡ thì có vẻ xa xỉ quá. Bà kệ nó ngồi bệt ăn vạ ở một góc chợ, cho nó sợ. Tin rằng nếu mình quả quyết không ngoái lại, thằng nhỏ sẽ ngoan ngoãn vì nỗi sợ hãi bị bỏ rơi. Trong lúc tìm một chỗ khuất để dõi theo đứa bé, có người chặn lại nói cô Năm coi giùm tôi một quẻ. Mãi đi theo những đường chỉ tay như mê lộ, lúc bà sực nhớ tới con thì nó không còn ở đó nữa.

Những người có mặt ở chợ trưa ấy đều hỏi bà làm mẹ kiểu gì vậy, người chồng say xỉn cũng hỏi câu ấy trong lúc giáng nắm đấm đánh gãy hai cái răng bà trước khi bỏ nhà đi. Điền thông tin gửi các báo đăng trên mục tìm người, bà miêu tả tỉ mỉ chi tiết đặc điểm của gương mặt, bàn tay, vị trí nốt ruồi trên người thằng bé vì đã thuộc lòng ngay từ khi mới đẻ, nhưng vẫn tuyệt vọng vì không nhớ quần áo con mặc hôm đó. Quần có thể ghi xám, nhưng cũng có thể nâu. Hoặc là ghi xám nhưng bị mưa ướt nên ngã nâu. Áo kẻ trắng xanh, trên túi thêu một con gà con hoặc hai con thỏ, hoặc là logo nhỏ của một đội bóng đá nổi tiếng nào đó. Chắc là vì những chi tiết mù mờ mà những lời rao không có hồi đáp nào vọng lại.

Cái thứ bà nhớ nhất, là chỉ tay của thằng nhỏ. Thứ đó tòa báo không coi là thông tin được in. Bà tự huyễn hoặc mình thêm lần nữa, bàn tay trở về sáng nay không phải bàn tay mình đã nắm ở chợ Sương năm ấy. Nó có khổ rộng gấp ba, chi chít sẹo. Nó nói bà ơi tôi đã chịu cơ cực lắm, từ hồi bà rời bỏ.

Trong tháng ngày bàn tay này phiêu bạt, bà nắm những bàn tay khác và không chịu được cái ý nghĩ mình níu người dưng đây mà buông bỏ máu thịt của mình, bà bỏ nghề. Nhưng không buông hy vọng. Lần gần nhất khi gửi lời gọi con lên chương trình truyền hình Như chưa từng xa cách, bà nhận được khá nhiều cuộc gọi đến nhà nói rằng có thể đã từng nhìn thấy đứa trẻ kia. Rất lạ là thằng nhỏ theo như miêu tả hay nói mình không có mẹ.

Chủ nhân của bàn tay mà bà đang ngây dại rờ rẫm đây chắc cũng xem được chương trình ấy nên theo dấu bà mà gửi tay về. Chắc cái vết cấn sâu trong trí nhớ ấu thơ của nó duy nhất chỉ hình ảnh mẹ đã buông tay bỏ mặc mình ở góc chợ. Mẹ đi thẳng, không ngoái lại.

Bà thầy từng nghĩ nếu có thể cải sửa cái hình ảnh sau cùng đó của mình - một bà mẹ nhẫn tâm - bà đổi mạng cũng đành. Điều đó là không thể, bà thật sự tuyệt vọng. Mưa tạnh, có mấy giọt nước rơi trên cúc áo người đàn bà. Ti vi nhà hàng xóm đang phát bản tin các băng nhóm tội ác thanh trừng nhau ở tận bệnh viện, một người bị mã tấu chặt đứt tay trái, giá xăng tăng, một làng chài khỏa thân biểu tình đòi lại những chiếc tàu đánh cá bị bọn Lạ cướp mất. Người đó sốt ruột ngó lên vách. Bà không chắc anh ta nhìn đồng hồ hay cái ảnh đen trắng chụp cận mặt một thằng bé sún răng cười toe treo gần đấy. Bà không nhìn mặt khách một lần nào, biết chắc chắn không phải nó.

- Đàn em tôi dặn hỏi kỹ, nó hỏi có phải vào tù nhiều lần không, hay chỉ ở một lần dài cho tới chết ? À, nó còn hỏi nếu chẳng may bị kêu án tử, thì nó sẽ bị bắn hay tiêm thuốc độc ?

Sau mỗi câu hỏi, bà thầy cảm giác mình vừa bị phạt một nhát. Rúm ró. Người đó khủng khỉnh cười, rút con dao ra khỏi mặt bàn chảy máu, đi ra cửa, và nói ngoái vào “Cô Năm từ từ mà coi cho kỹ, tôi đói rồi, chờ không nổi. À, đàn em tôi dặn cô cứ giữ, nó không cần nữa. Lìa thì cũng đã lìa rồi, mạch máu chết nên không thể nối lại…”

Bàn tay vẫn còn nằm lại trên mặt bàn trầy xước. Bàn tay để ngửa. Cụt đến nửa ống. Vô nghĩa biết bao một bàn tay không còn cầm nắm được. Bà thầy bói già kêu con ơi, níu mãi bàn tay xanh xao đó."


VÀI MÙA ĐÔNG LẺ | Nguyễn Ngọc Tư.

Trích: Ngày mai của những ngày mai.

"Một cuốn sách hay đắm hay đuối, làm ta sướng mê dại đi mà không có người để chia sẻ cũng là một nỗi buồn lớn. Tôi từng thèm được giúi vào tay ai đó một cuốn sách mới, rồi chờ đợi, để tìm sự đồng cảm, hay tranh luận cho những cảm giác của mình đã có cùng nó. Khi ra khỏi thế giới sách, bỗng chếnh choáng nhớ người, tìm người."

◄►

"Ngày mai, khu vực Bắc bộ trở lạnh. Không hiểu sao cái tin nhỏ trên trang báo làm mình nhớ chị.

Nhớ căn hộ chung cư ngút ngất trên cao mà bọn bạn bè miền Tây Nam bộ của chị thường tá túc mỗi khi có việc ra Hà Nội

Chị sống ở đó, với những đứa em trai em gái. Và gió. Thỉnh thoảng bạn bè loẹt xoẹt ghé qua, quẳng ba lô vào một góc phòng, năm mười phút vừa giũ bụi đường xa vừa hỏi thăm chị vài câu qua quýt, xong quảy túi đi chơi mất. Tụi nó cũng như gió, khác gì.

Nên chị thường một mình, sau thời gian quần quật với đám học trò ở trường. Ngay cả khi ngồi với những đứa em bên bữa cơm cuối ngày, ngay cả khi tham gia vào những câu chuyện rời rạc, xăng lên giá, vụ tai nạn xe ở một vòng xoay, một người quen ở dưới quê vừa mất… chị vẫn lẻ. Chị chỉ có vài mối liên lạc nhỏ để kết nối với cuộc đời, quanh quẩn thì cũng trường học, siêu thị, bếp, và văn chương. Chị viết truyện ngắn in báo, in sách, và những tờ báo cuốn sách đó được chị cất vào ngăn kéo. Âm thầm. Chị em thương nhau, nhưng văn chương với em là một trò chơi xa lạ. Em đi theo một vòng tròn khác, công ty, lớp sinh ngữ, phim cuối ngày…

Việc viết làm chị có nhiều bạn bè, thí dụ như tụi miền Tây chúng tôi. Nhưng những lần gặp nhau chốc lát rồi tan, khiến chị càng bị ấn sâu hơn về phía lẻ loi. Chị đọc sách, say mê sách, cuối cùng, những cuốn sách đã từng cứu rỗi bao nhiêu tâm hồn, cũng làm cái sự cô độc của chị nhói hơn một chút.

Một cuốn sách hay đắm hay đuối, làm ta sướng mê dại đi mà không có người để chia sẻ cũng là một nỗi buồn lớn. Tôi từng thèm được giúi vào tay ai đó một cuốn sách mới, rồi chờ đợi, để tìm sự đồng cảm, hay tranh luận cho những cảm giác của mình đã có cùng nó. Khi ra khỏi thế giới sách, bỗng chếnh choáng nhớ người, tìm người.

Nhưng buồn cười, đôi khi không tìm được ai trong số bầy người (thương yêu ta và ta thương yêu) nheo nhóc, để làm một việc giản dị là chìa ra một tác phẩm hay tình cờ, bảo đọc đi, ngộ lắm đó, hay “xem phim này đi, cũng lạ…”, hay “nghe bài nhạc này thử coi, buồn dễ sợ…”. Giống như tôi, chị một mình.

Và giống như chị, tôi còn nhiều bạn lẻ khác. Có người một mình trong căn nhà nhỏ ngó ra hồ, chiều tới chơi thấy chị lum khum quét lá, ngồi chơi một chút, chị hỏi hồi sáng này có coi cái phim zx trên kênh 9 không, có xem truyền hình trực tiếp chung kết hoa hậu không, rồi thất vọng nhận lại cái lắc đầu. Có người một mình trong bếp loay hoay nấu những món ngon, mỏi mòn trông con về, trông khách tới, trông hàng xóm mở cửa để… đem cho. Ở một căn nhà gỗ khác, cũng có người một mình đưa võng ngó mấy con chim treo trong lồng, nghe chúng nói tiếng người bằng giọng của chính mình. Có người tới tết là lủi thủi ra biển vì không thể kẹt lại trong mùa sum họp. Ai đó cô đơn do hoàn cảnh trớ trêu, cũng ai đó tự lựa chọn cách sống này mà không biết trước, đôi lúc ta thèm con người chết được. Không biết cũng có lúc ta thấy chật bung chỉ vì một bài hát hay, một món ăn ngon, một bức ảnh đẹp… Nên thành phố thì nắng ấm quanh năm, vẫn thấy ủ ê những mùa đông lẻ.

Nhiều lúc, chạy chơi với người này, xong chạy đằng kia uống miếng trà, gọi điện cho người bạn xa hỏi những câu ơ hờ, chú khoẻ không, lúc này làm gì cho đỡ chán, hay nhắn tin cà rỡn cho cái chị ở giữa cao cao Hà Nội, “mùa đông này có ai tình nguyện làm chăn cho chị hay chưa?”… Tự thấy, việc chạy chơi lăng xăng như một hành động lau nước mắt cho bạn, cho mình, như đốt lên đống lửa nhỏ vừa đủ hơ nóng mặt và tay, sau lưng vẫn đang lạnh cóng.

Đôi khi nghĩ, nếu những người bạn cô độc mà gặp nhau thì vui biết mấy. Một mối tình, ôi, điều đó là lớn lao, nhưng giản dị như một cuộc cờ, cũng cần đến hai người."


SỐT RUỘT THÁNG GIÊNG

Nguyễn Ngọc Tư.

.

Tết nhứt, người miệt miền tây xưa rày hay chưng mâm trái cây mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài mà đọc trại âm là một ước mơ : cầu vừa đủ xài. Mua được giống đu đủ vàng thì coi như cầu đủ vàng. Thay dừa bằng chùm sung một bước lên cầu xài sung. Năm nay người ta bày bán trái gọi là dư, nói gọi là vì những cây có tên rất rủng rỉnh là phát tài hay kim ngân lượng, đều không phải mớ tên sơ khai của chúng. Trái dư này, biết đâu tụi con nít quê xó nào kêu bằng trái chọi (không ăn được thì để chọi nhau chứ biết làm gì) nhưng thứ chỉ bày chơi đó thay đổi chắc nụi mâm quả Tết. Ước vọng trên đó giờ gọn lỏn như vầy : Cầu Dư.

Nó làm cho cái thế cầu vừa đủ xài cả trăm năm nay trở nên khiêm tốn, dù khái niệm “đủ xài” cũng đã là vô cùng. Mâm trái cầu dư trên bàn thờ mờ nhạt lòng thành, lẩn khuất sự tham lam, sự bất kính với vong linh người khuất mặt. Ông bà vốn bó miệng vì sung chát, đu đủ non, giờ chỉ biết ngồi ngó thứ trái lạ mà bọn người kia sợ chết dại không dám rớ. Thời của ngoại tôi, cúng vú sữa đầu mùa lên bàn thờ họ luôn chọn những trái chín ngon nhất. Bà ngoại tin người chết gì cũng biết, có lòng hay chỉ qua quýt họ đều hay. Mâm cúng thành kính xưa giờ nhuốm mùi đổi chác. Không phải ai đội hoa quả đến chùa cũng với tâm thế cho đi, chẳng cầu xin gì. Từ cầu no đủ cho đến cầu dư dả, trong lòng tham tăng bậc có sự kiên nhẫn xuống thang.

Thời thế gì mà sốt ruột. Nhà hàng xóm lại đổi chiếc xe hơi đời mới. Thằng bạn học giờ là doanh nhân trẻ vào tốp mười cả nước. Cô bạn cùng sở làm vừa sắm túi Cucci. Ông anh bên vợ trúng số. Có hàng ngàn lý do để sốt ruột, nhấp nhổm sau cái quãng chỉ so đo chuyện mâm cơm có thịt hay không có thịt, độn khoai hay không độn khoai. Cơn khát này không phải chỉ giàu, mà phải giàu nhanh như thể thời gian chỉ dành cho những người biết chụp giật, kể cả chụp giật ơn phước của tổ tiên, thánh thần.

Nhìn cảnh người ta giẫm đạp lên nhau xin (hoặc cướp) lộc chốn đền chùa, nghĩ xứ sở gì mà hỗn mang, nhập nhoạng. Không phải vì đạo, vì sự thiêng liêng của đức tin mà người này đạp lên vai, lưng người khác. Trong đám đông cướp ấn đền Trần, hẳn có nhiều người miệt mài làm việc nửa đời mà con đường quan trường vẫn xa. Bạn bè có đứa nhiều tiền nên mua được ghế, có đứa con ông cháu cha nên được nâng đỡ, còn mình bơ vơ chỉ có cách đi xin ấn đền Trần. Như để nuôi một hy vọng. Biết có cày cục làm lụng cả đời thì sự thăng tiến vẫn lừ lừ chậm bước. Những vị trí phải đợi lâu hoặc không bao giờ người ta có được nếu chỉ nhờ vào sức của mình, trong một hệ thống thăng tiến không mấy quan tâm tới khả năng làm việc.

Cái sự cuồng tín với những thứ xung quanh thánh thần (không phải với thánh thần), là hệ thống đức tin sụp đổ. Người ta không quên cái câu có làm thì mới có ăn của ông bà dạy, nhưng nhìn lên họ nhìn thấy nhan nhản những kẻ chẳng làm gì mà vẫn phờn phơ, vẫn ngồi trên trước. Nhìn xuống lại muôn trùng người tốt lăn lóc mưu sinh, sống thua thiệt cả đời. Chỉ có một thứ thay đổi số phận con người : phép màu của thần thánh. Nhưng thần thánh chưa chắc công bằng, biết đâu lại chiều chuộng kẻ có tiền có quyền. Thôi cướp lấy cho chắc ăn. Chẳng có gì chắc chắn trong việc đứng chờ thì sẽ đến lượt mình như là đến tuổi sẽ nhận được số hưu.

Trong tờ giấy mà mấy chị đàn bà xúi nhau học thuộc lòng để khấn vái lúc đi chùa, bốn chữ gia đạo bình an đứng sau cùng, sau “làm một được hai, trồng một gặt mười…”. Mấy chị, cũng như nhiều người khác, vào chùa không phải để cầu an. Bây giờ, lúc rạp mình trước đức Phật là lúc tâm chúng sinh bất an nhất.

Chịu khó ngồi lâu nhìn tháng Giêng (không chỉ năm nay) thì sẽ thấy nó trở thành một lễ hội vơ vét khổng lồ. Kẻ vét hy vọng từ trời, kẻ vét túi khách hành hương, địa phương vét phí. Đứng ở đền chùa, thấy lòng người đang loạn lạc rõ ràng hơn bất cứ chỗ nào. Vỡ đê đạo đức, cháu vác dao rượt chém bà. Vỡ đê đức tin, lộc trời rủ nhau đi cướp. Mai kia không biết thêm hệ thống tinh thần nào đổ nữa đây, chính quyền nhìn thấy cảnh đền Trần mà không lo thì hơi lạ. Bởi chuyện ở sân đền là họ sốt ruột lắm rồi, đến nỗi giẫm đạp trên đồng loại, đức tin. Ai dám chắc sốt ruột đến thế thì thôi.


KHÚC BA MƯƠI

Nguyễn Ngọc Tư

"Tụi nhỏ không biết, thật sự của Tết là bữa ba mươi này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngơ ngẩn ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẫy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, Mùng Một, Mùng Hai là Tết phai; Mùng Ba Mùng Bốn Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa ba mươi luôn sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào…"

........


Năm nào cũng vậy, do thức dậy sớm đi chợ sớm, nên má là người đầu tiên mở ngày ba mươi Tết ra. Không biết có phải số má cực, vía má cực không mà hôm đó cả nhà đều phải làm công chuyện tối mắt tối mũi. Đến nỗi, nhắc tới Tết là thấy chữ “Ba Mươi” chình ình, choán chật cả ký ức.

Đó là cái ngày duy nhất trong năm cả nhà sum họp mà không sum họp. Ai nấy túi bụi với chuyện của mình. Cánh đàn ông con trai (nói cánh cho ham vậy, chỉ hai người thôi, chứ mấy), cánh này quan trọng, lãnh phần dọn dẹp, lau chùi, làm đẹp nhà. Nào là quét mạng nhện trên trần, lau cửa kính, tủ bàn, kỳ cọ mấy cái lư đồng, đem phơi nắng. Mệt phờ. Lúc dọn dẹp, bày biện bàn thờ thì mùi chiên xào dưới bếp bay lên, trời, lại phải bỏ ngang công việc đang làm dở, chuẩn bị mâm bàn cúng rước ông bà. Xế chiều rồi, chớ giỡn…

Cúng kiếng xong, cánh đàn ông tiếp tục chuyển sang đánh trận… ngoài sân, còn má vẫn hì hụi trong bếp, vừa trông chừng nồi thịt kho, vừa làm thịt nguội, sau lưng má, củ cải với dưa leo đang chờ tới phiên mình trở thành món… dưa chua. Tết của má dài thăm thẳm, phải kể từ hôm tát đìa bắt cá làm mắm, xẻ khô. Cá còn phơi trên mấy hàng bông bụp má bắt tay vào làm củ kiệu. Hồi chị còn nhỏ, má lãnh luôn phần làm mứt, nướng bánh kẹp, bánh bông lan. Chị lớn, chị giành lấy, nói để chị làm, nên cả ngày ba mươi tụi nhỏ không thấy chị liếc, chị rầy, bởi chị cũng cắm đầu làm mứt, nào là mứt chùm ruột, mứt gừng, không biết ai ăn cho hết mà ôm đồm, vừa ngào chảo mứt dừa vừa chạy ra coi mớ mứt tắc (quất) phơi ngoài sân không biết có kiến bò lên không. Cái dáng chị khum khum, tay đấm lia lịa vào lưng, than mỏi quá nhưng vẻ mặt thì tươi rói, ngây ngất. Giống hệt cả nhà, miệng kêu cực mà hớn hở, như thể ngày cuối năm này không có việc gì làm mới là niềm đau khổ lớn.

Tụi con nít cũng bận lắm, chạy đi chạy lại, “lấy dùm ba cây bàn chải”, “chặt dùm má mấy trái dừa”, “ê, coi chừng mấy con chó chạy giỡn làm đổ mớ mứt đang phơi…”, “chạy đi mua cho má mấy bịt muối, cho đầy hũ, nhỏ ơi”. Trên đường chạy đầu này đầu nọ, tụi con nít không quên thò đầu vô tủ vuốt ve mấy bộ đồ mới, ứa nước miếng, trông mau tới chiều để mặc, nên có khi má kêu hai ba lần mới chịu đi làm, bịu xịu càu nhàu trong bụng, không biết ông trời sinh ra ba mươi Tết làm chi, công chuyện quá trời.
Mà, việc nào cũng quan trọng, quan trọng khủng khiếp, không thể để đến ngày mai. Tuyệt nhiên, chẳng ai chần chừ, “để làm sau..”. Cứ như là không còn ngày mai nữa, cả nhà làm cho bằng hết việc, đến xanh mặt, mướt mồ hôi, như ai đó đuổi đằng sau, như làm bây giờ để mai mốt không động tay vào bất cứ việc gì nữa.
Tụi con nít buồn cười, vì cữ kiêng lắm thì chỉ thảnh thơi được ngày mùng Một, bữa sau ba má cũng ra vườn tưới rau, chị nhất định phải rửa chén, giặt đồ, anh đến cơ quan, mọi người trở lại với công việc thường ngày của mình, Ba Mươi cũng đâu có thay đổi được gì mà làm muốn nín thở?

Tụi nhỏ không biết, thật sự của Tết là bữa ba mươi này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngơ ngẩn ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẫy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, Mùng Một, Mùng Hai là Tết phai; Mùng Ba Mùng Bốn Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa ba mươi luôn sống động, lung linh những mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, những ngọt ngào…


GIAO THỪA | NGUYỄN NGỌC TƯ
Trích: Giao thừa.

"Tết này không có 30, 29 rồi tới mùng một, như người ta bước hụt, thấy thiếu một ngày. Những khóm vàng hoa của ông Chín nở sớm từ 24, 25 đã ngả mầu vàng sậm. 4 giờ sáng, ông đi qua bên kia đường gánh nước về tưới, than : « Thời tiết năm nay kỳ cục quá » ông vấn điếu thuốc, phà khói bảo : « Con biết không, nghề bán bông tết cũng như bán lồng đèn Trung thu, qua rằm tháng 8 có cho người ta cũng không thèm lấy. "

---------------------------

Đã thấy mấy vạt hoa vàng loè xoè, đã thấy những trái dưa hấu bóng mẫy thẫm xanh chất tầng tầng trên chợ. Thế là Tết thật rồi. Tết cứ làm người ta nao lên nôn nóng ngóng chờ, rồi lại nuối tiếc cho tuổi xuân qua. Chợ Tết chạy dọc theo các vỉa hè quanh ngã năm, bán toàn dưa với hoa. Vô tình chỗ Đậm bán đối diện với khu nhà đẹp nhất, cao nhất và sầm uất nhất thị xã. Sau lưng, cách một lớp chì gai oặt quẹo là một bãi cát trống, cỏ xanh theo gió chạy líu ríu từng triền, từng triền mải miết. Cánh bán dưa ra chợ từ 20 tháng chạp, chở từ sáng tới khuya, hịch hụi. Lúc nghỉ mệt tay chống hông ngó qua. Những ngôi nhà cao. Những bảng hiệu sặc sỡ. Đèn đủ thứ mầu. Sang quá. Người ta đợi tết để trang hoàng cho thật đẹp, mà càng đẹp thì cánh bán dưa trong ruộng ra càng buồn. « Biết chừng nào mình xây được cái nhà cỡ đó hen? » . « Bán dưa, làm ruộng cỡ 40 năm ». «Giỡn hoài, cỡ đó thì xuống lỗ rồi còn gì » . « Ừ »...

Chỗ Đậm ngồi dưới tán cây còng bị tỉa nhánh chỏng chơ như bàn tay cụt. Bên trái là vạt bông của ông Chín từ miệt Sa Đéc xuống. Và chỉ Đậm là ngồi bán một mình chứ người ta chồng vợ đùm đề, xoong nồi lủ khủ. Ngày đầu cô chất dưa chưa khéo, dưa cứ ỷ mình tròn, lăn long lóc ra đường. Dưa lăn, người hì hục đuổi theo. Xe cộ giáp Tết đông nghẹt, người ta cười, người ta cằn nhằn. Tủi cực trào lên như người ta nhận cái thùng vô lu nước đầy. Đậm lầm lũi khóc nghẹn. Đậm 29 tuổi, hơi đen, trên khuôn mặt lam lũ còn sót lại chút duyên ngầm. Chưa thấy chanh chua như đã từng quen chợ. Lúc chở dưa ra, có anh chàng trẻ tuổi cao lỏng khỏng, nước da đen lùi, lúc cười chỉ thấy hơi hới hàm răng, chạy tới làm giúp. Kéo tấm ni-lông che nắng, chặt mấy cây chuối đem ra bao lại cho dưa khỏi lăn, anh chàng cũng giúp. Đậm nằng nặc bảo thôi đi, anh chàng cãi cố: « Tôi tiếp cho, có sao đâu ». Quần anh chàng lấm nhớt, tóc bù xù đỏ quạch như rễ vú sữa. Già Chín bán bông thắc mắc :

_ Con gái ơi! Bác thấy thằng đó hiền khô hà, ai vậy?

Đậm bảo:

_ Tên Quí, chạy xe lam, ở xóm thôi, bác à.

_ Chà, giỏi, tốt thiệt. Làm hăng vậy tính kiếm tiền để cưới vợ hả?

Anh chàng nghe lóm, cười chéo mắt:

_ Có ai đâu mà cưới, bác.

Ông Chín cười khà khà, vuốt chòm râu cụt ngủn.

Cái nắng xuân kỳ lạ, không gay gắt đỏ, không nhàn nhạt như nắng chiều hè mà vàng thắm thiết như mầu bông sao nhái. Bấc lồng lộng lẫy qua từng ngọn cỏ sau chợ, mang theo mù mịt cát. Mặt mũi đầu tóc Đậm lúc nào cũng nham nhám như hột me rang cát. Người ta quần là áo lượt kìn kìn chạy qua mà chợ dưa với hoa vẫn chưa sôi động. Năm nay dưa trúng mùa cả núi vầy ăn gì cho hết. Người ta nán đợi tới ngày rước ông bà, lúc đó coi dưa có rẻ hơn bây giờ không. Những người bán ngồi chéo queo, buồn teo. Bông vạn thọ, bông cúc trái nết nở bung từng khóm, lái bông than như bọng : « Năm nay chắc thua rồi ».

Đậm bắt chước cánh lái dưa xóm Vàm Xáng, đi chợ mua xấp liễn dán dưa cho bắt mắt khách, tiện thể mua cho bé Lý bộ đồ. Mứt gừng, mứt dừa ở nhà má làm rồi để coi mua gì thêm. Má thì thích bánh ngọt. Con út thích cắn hột dưa, Đậm mua mỗi thứ vài trăm gam. Về khui ra thấy bộ đồ bé Lý hơi lớn, nhưng không sao, lớn thì mặc tới năm sau. Già Chín hỏi : « Đồ ai mà bây ôm ấp vậy ? » . Đậm bảo của con gái con. Hỏi thêm một chút về ba của đứa nhỏ, Đậm cúi mặt thưa : « Không có ». Nghĩa là không có. Ông Chín không phăng tới nữa. Ông già rồi, lăn lộn trên đời, ông biết chắc có chi lầm lỡ. « Con lầm lỡ tới mức phải bỏ nhà đi luôn đó, bác Chín à. Tới lúc ba con buồn rồi chết, má mới rước con về. Bây giờ, có cực khổ thế nào con cũng ráng chịu, miễn sao năm tháng cuối đời má con vui. Mà, chắc bù bi nhiêu cũng không đủ ». Sau này, Đậm mở lời. Giọng Đậm khao khao. Cô thấy mình giống như cỏ ven đường, người ta đi qua đạp, đi lại đạp vẫn ngoi lên sống, sống cỗi cằn.

Những mùa lam lũ. Những mùa cực nhọc. Một mình chống chọi. Đàn ông con trai coi được một chút mới lòng vòng ở ngoài đã nghe thiên hạ rần lên : « Thứ gái hư đâm đầu vô làm gì ». Ai mà muốn, chỉ tại còn nhỏ, thấy gió yêu gió, thấy hoa yêu hoa, đam mê bồng bột. Nghĩ mình học chưa tới đâu nhưng là học những bài học bự nhất, đắt nhất. Đếm đi đếm lại chỉ còn Quí, khi biết được còn mỗi Quí thì Đậm đã sắp 30. Nhà Quí ở Lung Giữa, Quí gửi xe sân nhà cộ Làm một vài chuyện nhỏ như chở Đậm đi chợ không lấy tiền, tiếp Đậm cất cái nhà củi... thì cho là có qua có lại đi. Nhưng ánh mắt Quí ngày càng nồng nàn trói buộc, bắt Đậm phải day dứt giữa nỗi khát khao và tủi hổ. Quí trai tơ, chưa vợ, lại nhỏ hơn Đậm gần 4 tuổi. Nhưng Quí tốt quá, rất tốt. Má Quí già rồi, than với Đậm hoài, có một mối trong Nhà Phấn Ngọn, coi được lắm, vậy mà biểu thằng Quí cưới vợ mà nó hổng nghe, làm như nó còn chờ ai đâu.

Thời gian bị người ta chở kĩu kịt đi. Khiếp, mới đó đã 29 Tết. Bánh mứt, dưa hành, quần mới, áo mới như nước tràn lên phố. Đây là một thời điểm rộn rịp nhất, phơi phới nhất trong năm. Tết này không có 30, 29 rồi tới mùng một, như người ta bước hụt, thấy thiếu một ngày. Những khóm vàng hoa của ông Chín nở sớm từ 24, 25 đã ngả mầu vàng sậm. 4 giờ sáng, ông đi qua bên kia đường gánh nước về tưới, than : « Thời tiết năm nay kỳ cục quá » ông vấn điếu thuốc, phà khói bảo : « Con biết không, nghề bán bông tết cũng như bán lồng đèn Trung thu, qua rằm tháng 8 có cho người ta cũng không thèm lấy. Buôn bán kiểu vậy như con gái có thì, qua rồi, khó lắm... » Ông nói tới đây, thấy Đậm ngẩng đầu ngó sao muộn, ông thôi không nói nữa. Đậm nhớ con gái quá. Nghe Quí đem đồ về lại đem tin ra bảo : « Bộ đồ bé Lý mặc vừa lắm, nó đòi ra với Đậm. Buôn bán như vầy cực quá, chở nó ra đây, tội nghiệp... ». Rồi Quí bảo mớ bông mồng gà Đậm gieo sao mà khéo quá, bông đỏ bông vàng trổ ngay Tết.

Đó là lúc chờ sáng, còn rỗi rãi xẻ dưa mời nhau, chứ ngày 29 là một ngày tất bật, nói theo dân đá banh là thắng với thua. Người mua xúm xa xúm xít. Mới một buổi đã lử lả, Đậm một mình phải coi trước coi sau. Tưởng dưa hấu đắp đập ngăn sông mà đã vợi đi quá nửa. Nhưng chắc phải đợi cho tới giao thừa. Người ta chờ tới đó sẽ rẻ nữa. Chạy xong mấy chuyến xe buổi sáng, chiều Quí lại giúp. Từ bến xe lam lại đằng chợ chừng 100 m. Quí kêu : « Có ai mua nhiều, Đậm hứa đi, tôi chở tới nhà cho ». Đậm thấy vui, phần thì bớt lo dưa ế, phần thấy nao nao trong lòng. Cái không khí đẹp thế này, ấm thế này, không vui sao được. Quí hỏi : « Nhà Đậm có gói bánh tét không? ». Đậm hỏi lại : « Có, mà chỉ ». « Tôi cho, má tôi gói nhiều lắm ». Quí mặc áo đứt mất tiêu cái nút trên, lồ lộ ra mảng ngực ráp nắng. Trong Đậm nhiều khi dậy lên một cái gì rưng rức khó tả, chỉ mong nép đầu vào đó để quên nhọc nhằn, để quên nỗi cô độc lùi lũi trong đời.

Lúc ngẩng lên được đã năm mới mất rồi. Nghe được tiếng trống giao thừa vọng về từ trung tâm thị xã. Ở đó có một lễ hội thật tưng bừng. Ông Chín đốt 6 nén nhang, chia cho Đậm nửa, biểu : « Con cúng giao thừa đi. Cầu an khang, sức khỏe, cầu năm tới giàu hơn năm nay ». Mùi nhang thơm trong gió sực lên mũi Đậm một nỗi nhớ nhà. Dù đây về đấy chưa tới một tiếng đi xe. Ở chợ, người muốn về trước giao thừa thì đã bán thốc tháo để về. Những người còn lại cũng cố dọn dẹp làm sao mùng một có mặt ở nhà, pha bình trà cúng tổ tiên. Ông Chín đứng chỉ huy cho con trai ông bưng mươi chậu hoa còn lại lên xe hàng, quyến luyến : « Hồi nãy con tặng bác dưa ăn, giờ bác tặng lại cho con với cậu nhỏ hai chậu cúc đại đóa này. Năm tới, bác có xuống không biết được ngồi gần cháu như vầy không. Cha, đây về Sa Đéc chắc phải nhâm nhi dài dài cho đỡ buồn quá ».

_ Dạ, bác về mạnh giỏi, ăn Tết cho thiệt vui.

Đậm vén tóc, cười, thấy thương ông quá. Ông Chín leo lên xe còn ngoắc Quí lại nói thì thào: « Ê cậu nhỏ, tôi nói cậu nghe, ông bà mình có câu: Ra đường thấy cánh hoa rơi. Hai tay nâng lấy, cũ người mới tạ Mạnh dạn lên, cậu thương con gái người ta mà cà lơ phất phơ thấy rầu quá. Cháu Đậm, thấy vậy mà như trái dưa, xanh vỏ đỏ lòng ». Nói rồi xe vọt đi, mấy người nữa lên xe vỗ vào thùng xe thùm thùm như gửi lại lời chào tạm biệt. Khói xe xoắn ra từng ngọn tròn tròn như con cúi. Đậm lui cui quét dọn chỗ của mình, hỏi:

_ Ông Chín nói gì vậy?

_ Đâu có gì _ Quí cười bối rối.

_ Về nghen, chạy xe chất đồ chở về. Biểu Quí đứng chờ mà không nghe, vì tôi mà ngày nay Quí bỏ mấy mối xe, uổng quá.

_ Đâu có gì còn 31 trái dưa...

_ Tôi tặng Quí chục trái ăn dài dài.

Quí cười :

_ Nhà tôi đơn chiếc, có mấy người đâu, ăn gì nhiều vậy.

Những chiếc xe vẫn nối đuôi nhau chạy về phía đại lộ. Lễ hội giao thừa vẫn chưa tan, chưa muốn tan. Người ta vẫn muốn cùng nhau đi hết Tết này. Một vài anh bạn trẻ chạy xe qua, gọi Đậm: « Nhanh lên chế ơi, trễ rồi. Tết đâu có đợi ». Lúc Đậm lên xe thì đã qua lâu giao thừa, Đậm ngồi đằng trước ngang với Quí. Xe ra khỏi thị xã, con đường nhỏ lại, vắng hoe. Đậm ngoái lại nơi cô từng nếm sương, nếm nắng, nghe gió. Những đóa cúc sau sàn xe rung rinh những sắc mầu rực rỡ. Quí bảo:

- Đậm biết cúc đẹp gì không?

Đậm lắc đầu. Quí cười:

- Lòng chung thủy. « Diệp bất ly chi, hoa bất ly đài ».

Ai nói với Quí vậy?

- Bác Chín. Năm tới, tôi trồng cúc đi bán với Đậm nghen.

Đậm muốn cười, rất muốn cười mà sao nghẹn lại. Làm sao vượt qua những trở ngại trong lòng người. Hai bên đường rập rờn hoa dại. Những đống lửa rơm còn nghi ngút khói, bọn trẻ cơi lên khoe áo mới rồi mỏi mòn đi ngủ.

Quí cho xe chạy thật chậm, nghe gió thổi qua lỗ tai lạnh quánh. Lạnh như khoảng chiếu nửa đêm Quí chạm tay vào, tượng lên một nỗi nhớ rờn rờn lúc mờ lúc tỏ. Những nỗi nhớ phơ phất mái tóc một người, đôi mắt một người, dáng dấp một người. Đến tỉnh dậy vẫn còn bồng bềnh như khói. Quí nhìn Đậm, ánh nhìn rất lạ. Anh không biết vì một nỗi gì mà tới bây giờ anh chưa nói lời thương với người ta. Anh không ngại đứa con, anh không ngại chuyện lỡ lầm xưa cũ, tuổi tác cũng không thèm nghĩ đến. Cô luống cuống khi thấy chiếc xe chạy chậm dần:

- À... Ờ... Tết này nữa, Quí bao nhiều tuổi rồi ha?

Quí im lặng, dừng xe hẳn. Lúc này anh thấy cần nắm lấy bàn tay lạnh tái của Đậm, rất cần. Khi ấy giao thừa đã đi qua lâu, lâu lắm rồi nhưng rõ ràng vẫn chưa hết Tết. Mai là mùng một.


NGỒI BUỒN NHỚ NGOẠI TA XƯA 

Nguyễn Ngọc Tư | Ngày mai của những ngày mai.

"Lúc sinh ra là đã thấy ngoại bán tiệm rồi, cũng như đã thấy ngoại khó tính sẵn, ngoại việc dằn mặt vụ chưng diện ra, ngoại còn làm con cháu “rè” dài dài, lên mâm cơm, ăn có chậm, hoặc vừa ăn vừa chỏi tay cạnh hàm, gác cằm lên đầu gối, ngồi chồm hổm, ngoại sẽ hát khúc “Ăn kiểu đó nghèo chết luôn”.

------------------------

Bà ngoại ta, mấy nhà hoạt động xã hội vì sự tiến bộ của phụ nữ, hay giải phóng phụ nữ gì gì đó, gặp một lần là khóc chết luôn.

Sơn móng tay hay móng chân, mặc váy hay quần đùi, tóc uốn hay tóc tém, tóc nhuộm, áo hở ngực hay áo bó… tóm lại, tất cả cái gì liên qua đến chưng diện bà ngoại đều ghét cay ghét đắng. Nên hai con gái của ngoại suốt thời thiếu nữ chỉ thả tóc đen dài, chết bỏ cũng chỉ bộ bà ba, móng chân suy nhất màu phèn vàng ệch. Lúc già, hai nàng này bắt đầu day qua nhằn tụi nhỏ, “bà ngoại mầy còn sống, bả chửi tan nát…”

Nhưng bà ngoại mất rồi, rất thanh thản, bà ngoại còn lựa ngày để chết, vào buổi sáng hôm tiên thường đám giỗ ông ngoại. Bà ngoại đi trong lúc con gái lúi húi ngoài sau hấp bột xào nhưn gói bánh. Hồi sống, bà ngoại luôn nói chết làm sao cho bớt bận lòng đám con cháu vốn ít ỏi, bây giờ thì vui rồi, hai đám giỗ nhập làm một, có cả cháu ông, cháu bà, bên nội, bên ngoại.

Hồi còn sống, bà ngoại hay nói về ngày ngoại chết, nói thản nhiên, nói rộn rã như đang lên kế hoạch cho buổi hội nghị nào đó (có phong bì). Ngoại dặn, đừng mời thầy chùa vì sợ con cháu bận theo lạy lục trong lúc tụng kinh mà không phục vụ khách chu đáo. Dặn nấu đồ ăn phải dư nhiều, để lúc kết thúc thì bưng cho xóm giềng, cho những người mấy ngày trời tới lui giùm đám. Dặn sau này cúng giỗ thì đơn giản thôi, miễn có con cá lóc nướng cũng xong rồi, nhưng cúng trăm mươi ngày với bận giáp năm thì phải làm thiệt lớn, đây là dịp đãi đằng hậu tạ những láng giềng, họ hàng đã giúp đỡ nhà mình hồi đám ma. Dặn đừng có mời kèn trống làm chi, uổng tiền.

Uổng tiền, đó là câu nói đầu môi của bà ngoại. Nó làm mất lửa bất cứ ai hí hửng đem cho ngoại bộ đồ mới, caí võng mới, hay nón, dép mới. Đồ cũ còn mặc được (dù đã vá mấy chỗ, dù lưng aó mỏng te, mấy nẹp áo đã sờn). Võng cũ còn nằm được (dù đã vá chồng mấy lớp). Đội nón cũ đâu có chết (dù đã bung vành, xuống màu, thâm kim). Cái gì ngoại cũng tận dụng đến cùng, bao gạo, hay caí mùng vải đều nằm trong chủ trương còn rách còn… vá. Cấp bậc cao hơn là vá… lu, xoong chảo bằng gang cũng vá luôn. Nếu đã vá rồi mà vẫn không dùng được, lu ngoại sẽ để dành dú chuối, xoong chảo làm mẻ ung muỗi cho heo. Áo, nếu không còn mặc được nữa, ngoại sẽ lắt mấy nút bóp đem cất trước khi chuyển áo qua làm… nùi giẻ. Mà, nó sống hết đời lau chùi thì chỉ có nước làm phân cho… trầu.

Vườn trầu của ngoại nổi tiếng cả xóm, nên mấy chiếc ghe hàng bông hay ghé hỏi mua. (Tụi nhỏ đất liền có dịp gặp tụi nhỏ hàng bông, để sau này có đứa lon ton lượm lặt chi tiết để viết… truyện thương hồ). Ngoại hái trầu đến mức móng tay cái mòn khuyết một lỏm. Những ngày vào đợt hái trầu, ngoại quảy cà vung ra vườn sớm, lúc mặt trời lên cũng là lúc ngoại è ạch na cà vung vào, đổ ra bộ ván, rồi lấy dây lát bó từng ốp. Ốp trầu của ngoại cũng nổi tiếng, chặt chẽ mà mềm mại, không quá siết làm lá giập, cũng chẳng dễ tuột dây. Để có những lá trầu mượt mà, nồng đậm, ngoại ủ một khạp cá phân thúi ùm, ngang qua đó tuị nhỏ nín thở, chạy caí vèo. Chỉ ngoại là tỉnh bơ lấy gàu múc tưới.

Ngoại không sợ gì hết (chết mà không sợ thì sợ gì nữa). Ngoại cất cái quán nhỏ dưới bến bán “tót ten” (Chữ naỳ của ngoại hay khủng khiếp, rất tạm bợ, thờ ơ, cũng rất tuềnh toàng, giản dị). Từ quán lên nhà phải qua con đường mòn hai bên dừa nước bịt khù. Lại còn ráng, ô rô mọc xon xen ra lối đi, ban đêm tối mịt mùng, thấy ớn. Với ngoại chẳng nhằm nhò gì, cả con sông Rạch Rập trước nhà cũng khủng khiếp, nghe kể hồi chiến tranh lâu lâu ngoại bơi xuồng đụng phải một xác chết, lâu lâu lại có khúc… chân người tấp vô ven đó. Ngoại lấy dầm… vít ra. Chuyện nhỏ như con… thỏ.

Những năm tháng sống bên đồn Chẹt chắc không phải dễ dàng gì khi chồng và con gaí đầu lại là… Việt Cộng, bà ngoại trở nên (hay sẵn tính) gan lì. Vườn cũ, chim cú trú ngụ thành bầy, đêm nào chúng cũng thảm thiết cất tiếng kêu, rất thê lương, ngoại tỉnh bơ, xách đèn cóc ra chuồng heo coi sao tuị heo chộn rộn vậy. Trời ban cho ngoại bàn tay lẹ làng, tướng đi lật đật, con mắt lanh lợi nên bà rất giỏi giang. Làm bánh hết sẩy, buôn bán có khiếu, làm ruộng trúng mà đan đát cũng tài. Sàng sịa, thúng mủng, rổ lớn rổ nhỏ toàn ngoại đương. Nên cái quấn vải mà ngoại quấn trên ngón tay trỏ để vót nan cũng mau mòn. Tuần rồi, về U Minh ghé qua rạch Ổ Ó, quê nhà của bà ngoại, gặp người dì (gọi ngoại bằng dì) đang ngồi đương rổ, bỗng giật mình. Người sao mà giống người. Ở đây, bảy mươi năm trước, có một bầy con gaí ngồi vót nan dưới trời chiều, không biết yêu đương hò hẹn, cứ vậy, chờ người tới rước đi. Để tiếp tục nấu nướng, làm lụng, quần quật với cuộc đời.

Ngoại cũng có khi lo sợ, toàn chuyện không đâu, lý do rất mắc cười, thí dụ, bà thảng thốt khi nghe tiếng gà gáy ban trưa, ngoại ngó con gái mình, hơi dè dặt, rầu rĩ, “Gáy kiểu naỳ là xóm có đứa chửa hoang rồi. tụi bây ráng giữ mình…”. Nhà có đến hai “hủ mắm treo đầu giàn”. Ngoại sợ đỗ vỡ cái mà người ta gọi là gia phong. Mà, sợ cũng mắc công, hai con gái má cũng chẳng thèm yêu đương hò hẹn, ai thích thì rủ lại nhà chơi với… má tui. Một bữa con gái lớn đòi theo ông ngoại về cứ, bà ngoại nói mầy mà bước đi, tao từ, con gái không lo may vá, vén khéo mà bày đặt cầm súng đạn (hay đó chỉ là cái cớ, ngoại sợ rủi một ngày, ngoại phải khóc chồng, khóc cả cho con ?). Nhưng con gái vẫn đi, cô biết, sức mấy mà ngoại bỏ con. Sinh mười lần, chỉ còn hai đứa con gái cu ky, con trai, đứa chết vì sài đẹn, đứa chết bởi viêm phổi, bởi ban đen ban đỏ, bởi những căn bệnh tưởng như vặt vãnh nhưng vì nghèo, vì thiếu thốn, lạc hậu mà những đứa trẻ tuột khỏi tay bà.

Trong thời gian đi tìm cái hình bà ngoại, mình lấy tạm hình của… cháu bà ngoại đem lên chơi. Người này được đánh giá là giống bà ngoại nhất (tất nhiên, khuôn mặt thôi), hơn cả con gái của ngoại

Ở ngoại luôn có mùi lưu cửu, cũ kỹ. Nó thống nhất với bộ đồ sờn rách đôi ba chỗ, từ mùi dầu dừa trên tóc, bàn tay đượm hương trầu. Cái tiệm của ngoại cũng cũ mèm những hủ tương da bò, khạp đường mía, mấy ciá mọc bẻ bằng dây chì treo lùm đùm bọc to bọc nhỏ. Có thể tìm thấy đủ thứ hầm bà lằng ở đây, từ kim chỉ, nút bóp, đến đá lửa, hột quẹt, ống cuốn(quấn tóc, tạo nếp cho tóc), kiếng lược, đường đậu bột khoai bột mì, tương chao, nước màu nước mắm, xì dầu, kẹo dừa… Hiện đại nhất là lon go của lính Mỹ dùng để đựng tiền.

Lúc sinh ra là đã thấy ngoại bán tiệm rồi, cũng như đã thấy ngoại khó tính sẵn, ngoại việc dằn mặt vụ chưng diện ra, ngoại còn làm con cháu “rè” dài dài, lên mâm cơm, ăn có chậm, hoặc vừa ăn vừa chỏi tay cạnh hàm, gác cằm lên đầu gối, ngồi chồm hổm, ngoại sẽ hát khúc “Ăn kiểu đó nghèo chết luôn”. Trong chén còn mấy hột cơm cũng phải vét cho sạch, ngoại cấm đứa nào ăn rơi rớt, trái ổi, trái khế nhóc ngoài vườn cũng đừng hòng cạp nửa bỏ nửa. Bà ngoại hay nói ăn xài hủy của sau này có lúc cần, hỏng có mà ăn, lời ngoại như tiên tri vậy, đúng là bây giờ bỗng dưng thèm trái ổi chát ngấm ngày xưa, kiếm được chết liền. Giũa mấy nhỏ trong nhà tả tơi, ở xóm mà chạng vạng mới chạy lại mua dầu đốt đèn, hay tới bữa cơm mới đi mua gạo, thể nào cũng bị ngoại “tụng” một trận. Ngoại không biết mà cũng không thèm biết “khách hàng là thượng đế” mà khách hàng là con cháu. Không dạy để sau này thành quen, không chịu lo xa, nước tới chân mới nhảy thì muộn rồi.

Đúng là khó thấy ớn. Có lần, ngoại chèo xuồng ra nhà con gaí lớn chơi, thấy thằng rể xách cây đánh cháu ngoại mình, bà giận lắm, từ ấy, căn nhà đó không còn được đón ngoại ra, dù mười, hay hai mươi năm nữa đã trôi qua. Rể giờ đã già, nhắc chuyện xưa buồn bứt rứt.

Nhưng đấy không phải là chân dung đầy đủ nhất của bà ngoại.

Ngoại sợ uổng tiền, ngoại tiện tặn giặt từng cái bọc ni long cũ, xúc rửa từng cái chai sành, nâng niu từng cọng dây thu khoanh nhưng đối đã với xóm giềng, họ hàng, nhất là người nghèo, người làm mướn cho nhà mình thì mướt rượt. Ngày mấy bữa cơm, cà phê, thuốc hút đầy đủ, thợ gặt ngoại cũng bưng nước uống, khoai luộc ra tận ngoài đồng. Ngoại không dám may áo mới nhưng đám con cháu được ăn mặc đủ đầy. Về ngoại, chưa kịp khoanh tay thưa ngoại đã xúc gạo nấu cơm, rửa khoai đem luộc, lúc thì ngâm đậu nấu chè, xay bột nấu bánh canh, nấu trôi nước. Cái món bánh tổ ăn thừa, ngoại đem phơi khô treo giàn bếp, lâu lâu đem ra chiên với mỡ heo, từ ngoại ra đi không còn thấy nữa.

Không còn thấy nữa bà già nhỏ nhắn, miệng luôn rầy la, chửi chó mắng mèo nhưng trong bụng hiền khô. Bà già đó, nhiều khi cũng cực đoan, phong kiến, cũ kỹ nhưng nền nếp, tử tế.

Không còn thấy nữa, nhưng ngoại vẫn ở bên ta hoài, theo cách riêng của bà, thí dụ gặp khuôn bánh dưới đáy tủ, ai đó vô tình buột miệng, “bà ngoại hồi đó khoái nướng bánh kẹp, bánh bông lan…”. Nhờ vậy, câu chuyện này được chắp vá từ những người khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Bởi có đứa cháu của bà ngoại hồi xưa không gần gủi với bà, bởi nó sợ căn buồng kín mít chứa toàn đồ cũ nên không đời nào chịu chun vô ngủ với bà, bởi nó nghĩ bà ngoại thương cháu trai hơn, bằng chứng là bà toàn rửa đít cho ông anh, bởi bà hay cằn nhằn nó.

Để một ngày nó thấy ngoại trong nó, ra đường gặp mấy đứa nhỏ tóc đỏ tóc vàng, hở lưng hở rốn, nó bỗng đổ quạu, cằn nhằn, “Con gái con đứa gì không nên nết…”

Rất có thể sẽ có bà ngoại phần III.


TRỞ GIÓ

Nguyễn Ngọc Tư

.

Cuộc hẹn của chúng tôi không rõ ràng, mỗi năm gió lại đến bằng một ngày khác nhau. Nên vừa bước qua tháng Chín, tôi bắt đầu dời chiếc chuông gió sang cửa sổ phía Đông. Cuộc chờ đợi nhiều khi rất dài, đến nỗi quên phứt đi. Để rồi một sớm mai, bỗng nghe hơi thở gió rất gần. Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không. Rồi nó mừng húm, khi nhận ra tôi chẳng quên được nó bao giờ (dù tôi đã để những chàng trai như Đờ, Ka, Mờ... lãng phai tuốt luốt). Cái chuông gió với những âm thanh mỏng manh trở thành thứ đồ chơi lãng nhách, chẳng thể hiện nổi sự hừng hực, dạt dào của nó - bây giờ lớn thành một dòng gió, xấp xãi, cuống quýt xốc vào tấm tole bên chái Đông đã bị đứt đinh từ mùa trước. Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà thiệt dịu dàng. Ôi! Gió chướng.

Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn, buồn muốn chết. Trời ơi, gió này là sắp hết năm đây, sắp già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy... Mỗi lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gấp rãi ăn gấp rãi nói, gấp rãi cười, gấp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống...

Nhưng tôi vẫn mong gió chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại. Khi gió bắt đầu hiu hiu se lạnh, đám con nít nhảy cà tưng, háo hức vỗ tay cười, vậy là gần được sắm quần áo, dép mới rồi (nhà nghèo, cả năm chỉ được dịp này chứ mấy). Gió chướng (và gió bấc) với tôi là gió Tết, dù từ khi bắt đầu mùa gió đến Tết, mất gần ba tháng ròng. Má tôi cũng coi nó là gió Tết, nghe gió, má thuận miệng hát "Cấy rồi mùa qua sông cấy mướn. Ông trời ổng thổi ngọn chướng buồn cha chả là buồn..” rồi thở dài cái thượt "Ứ hự, lụi hụi mà hết năm...". Dường như tâm trạng má khác tôi, những sợi gió cứ như xốn xang vào nỗi nghèo túng, sợ không lo nỗi một cái tết tử tế cho cả nhà.

Má, tánh lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hy vọng rực lên theo màu lúa. Mùi rơm thơm ràn rụa thổi ngang đồng, nỗi buồn lo của má tan không thành tiếng, tan mau như sương. Đáng chờ đợi lắm, vì mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch. Gió thổi tạnh ráo những đôi chân suốt một mùa đầm đìa trên đồng bãi. Liếp mía đặt từ hồi tháng hai, tháng ba, đợi gió mới chịu già, nước ngọt và trĩu, cầm khúc mía trên tay, nghe nặng trịch. Vú sữa chín cây lúc lỉu, căng bóng, màu vàng lan dần từ đít những trái xanh, trái tím càng tím lịm, nửa đêm dơi ăn rớt lịch bịch ngoài hè. Còn dưa hấu nữa, ui chao...

(Bây giờ thì mùa trái cây kéo dài cả năm, cảm giác thèm thuồng ngày đó không quay lại, nhưng xẻ trái dưa đỏ, thưởng thức giữa cơn gió chướng hiu hiu, thấy 'đã" hơn, đậm đà hương vị hơn nhiều. Ậy, lại cực đoan...).

Cảm xúc ngọt lành thời thơ ấu chín muồi trong ký ức, lúc lớn lên, gió chướng ám luôn vào những trang viết. Tác phẩm nào tôi cũng cho gió lúc thấp thoáng lúc ròng ròng thổi qua (nhiều lúc hết hồn, chỉ chi tiết này thôi mình cũng đang lặp lại, mấy nhà phê bình không khinh khỉnh sao được). Những đám cưới được tôi cho xuất hiện trên cái nền gió này, nhưng chỉ là cái cớ cho buồn thẫm hơn, sắc lại trên những mối tình dang dỡ. Chắc tại gió quá dịu dàng, nên có cảm giác gờn gợn buồn, có cảm giác như gió mồ côi, cúi đầu hiu hắt đi giữa đời. Hay tại tôi đã già, đã nhận ra không mùa vui nào là vui trọn. Con nít sướng rơn nhìn đám cưới đi qua, tự hỏi bà dì lỡ thời sao lại buồn dữ vậy. Đứa cháu ngồi nhìn lớp da của ông ngoại mình bong ra rơi trên nền gạch, thắt lòng nghĩ về cái chết - con đường thế ngoại sắp (và tất) phải về...

Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm văn chương, nó "gợi" khủng khiếp. Tôi vẫn thường hình dung, một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ "gió chướng", ngay lập tức tôi sẽ chết giấc trong nỗi nhớ quê nhà. Và những hình ảnh quen thuộc hàng hàng lũ lượt hiện ra, những nùi rơm vướng oằn nhánh me, giồng bạc hà cháy lá, con nước rong linh đinh lém bờ sông, má đứng giê lúa, trấu bay xà quần về cuối gió, vài buồng cau quá lứa thắp lửa trên cao, tiếng chày quết bánh phồng thâm u trong rặng dừa nước... Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức rất trễ, tầm tám giờ sáng mới thấy mặt trời ngai ngái lơi lơi, nắng không ra vàng không ra trắng, mây cụm lại rồi rã từng chùm trên đầu.

Ở đó, siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu dưa hành bánh chưng, bánh tét, liệu ở đó, có ai bán một mùa gió cho tôi ?


Nhân tình

Nguyễn Ngọc Tư.

(tặng Phượng những ngày hay khóc)
.
.
.
Lâu lâu chồng họ tạt qua
Chạm vào nốt ruồi cuối lưng người em làm quen lại,
Ghì nhau chẳng dứt xa xôi
Nhớ thương cất lời đuối lưỡi

Thêm một que củi đặt vào bếp nguội

Bật bao nhiêu đèn
Mở ngần nào cửa,
Phơi dưới mặt trời
Em vẫn là người trong bóng tối

Trong bóng tối tóc xuống màu
Cái liếc mắt thiu
Da thịt mục
Người đến vùi em vào bóng tối sâu hơn

Thêm một lần tro được hâm nóng hổi

Tóc lả trên chăn chiếu phập phồng
Phập phồng như dấu răng để lại
Chẳng còn gì hớn hở
Tặng mùa sau
Đã thông thông thuộc tận cùng nhau

Thêm một lần cháy vội và tắt rụi

Khép cửa phòng gặm nhấm móng tay
Không đốt nến sợ mùi người tan mất
Ngoài thềm mưa xóa dấu chân.


MỜ MỜ NHÂN ẢNH

Nguyễn Ngọc Tư.
......

Đáng lẽ tên nhân vật này là Nguyễn (lúc này Nguyễn là tên thịnh hành, chẳng phải các vị lãnh đạo cao cấp của mình hầu hết đều là Nguyễn đó sao, chẳng phải quá chừng đông nhà văn, nhà thơ trên đất nước này đều là Nguyễn đó sao!), nhưng nghĩ lại, gọi là Harry Potter là hợp lý. Lý do: chẳng ai gắn bó với kính như chàng phù thủy dễ thương nổi tiếng này. Câu chuyện như sau: bữa nọ, vì yêu thầm nhỏ bạn xinh đẹp, Harry quyết định bỏ kính qua một bên, cho… có vẻ đẹp trai, phớt đời, sương gió. Chàng ta mặc cảm với cặp kính mọt sách của mình. Chàng ta dùng bùa chú nhốt cái kính vào chiếc hộp có 2 tỉ ổ khóa với 2 tỉ chìa khóa được trộn lẫn vào nhau.

Từ giã một cuộc đời rực rỡ, Harry bắt đầu sống với đôi mắt xuống cấp trầm trọng, mờ mịt, tầm nhìn xa chưa đầy… một mét. Hồi nào giờ Harry chưa nhìn đời lung linh như vậy. Bây giờ thì tha hồ mơ mộng. Những phố, những nhà bỗng chênh chao như trong khói nắng. Qua sông, thấy sông chìm lãng đãng dưới sương. Rác xao xác trên đường cũng chẳng khác gì lá vàng đang hát khúc ca về cội. Đời ít màu sắc, không chói gắt, mọi hình khối trở về với sự đơn giản nhất, ít chi tiết nhất. Quá hay.

Chàng phù thủy suốt ngày chỉ lo học hành, đánh đấm đã biết thẫn thờ, mộng mị. Mắt lúc nào cũng dịu dàng, mơ màng. Coi đá bóng, ti vi cách chừng hai mét nhưng chỉ thấy áo trắng, áo đỏ chạy tới chạy lui. Vài người bỗng đẹp lên một cách ngỡ ngàng vì được lược bỏ một số chi tiết thừa, chẳng hạn như mặc áo chim cò, quần thì rách lai, tóc tai bờm xờm…

Bỏ kính, tai Harry tự dưng cực quá chừng. Nó phải lắng nghe, cảm thụ, phân tích những xấu đẹp của đời. Không ám ảnh bởi vẻ đẹp của người ca sĩ, của sân khấu lộng lẫy, tim Harry chẳng thèm run rẩy trước một tà áo xẻ cao, chỉ còn nao nao vì thanh âm thuần khiết của những bài hát quá chừng hay. Harry bồi hồi phát hiện ra mình có khả năng nhận biết tiếng từng bước chân trên những bậc thang, phân biệt được những tiếng cười ở phía xa xa, có cái cười nhiều thanh âm vỡ, lạc đi, có tiếng cười lạt nhách, có tiếng cười hể hả, phơ phởn, xủng xoảng và có tiếng cười buồn như cái ho khan… Tiếng cười mở ra những phận người.

Mắt mờ, Harry sống chậm hơn. Cậu thường mở cửa sổ, nghe gió run rẩy trong vòm cây bên dưới, những viền lá chạm vào nhau khẽ khàng, rụt rè, tê dại như lần đầu tiên người ta chạm môi nhau. Cách một bờ rào, xóm hẻm đã không còn ở đó nữa, hiện thực hơi lùi lại… Những mái nhà lem nhem khói, chắp vá bằng những tấm tôn, tấm nhựa rối nùi bỗng chỉ là bức tranh màu nước, hơi xa, chỉ tiếng chửi thề, tiếng trẻ con rượt đuổi nhau, tiếng rao, xoong chảo khua, tiếng khạc nhổ… là xao động. Giống như có người bịt mắt Harry, cậu nghe hơi thở phập phồng nóng bừng sau gáy, ngửi được mùi dầu gió trên tay, cảm nhận được khuôn mặt đó, nhưng cậu không thấy, hay thấy bằng cách khác, bằng tinh tế, bằng nhạy cảm, bằng nỗi nhớ, bằng tâm hồn của chân tóc và đầu những ngón tay.

Bằng cả những giác quan còn lại. Cái mũi xấu xí cũng thôi mặc cảm. Nhờ nó, và mùi bắp nấu, Harry biết bên hẻm, người đang sấp ngửa với cuộc mưu sinh. Bên ấy, khói đang lên, những ngọn khói ban đầu thì mảnh, khẽ khàng, dùng dằng, sau cuộn lên day diết. Lên cao, gió khuấy loãng khói chỉ còn là những cái gợn xanh xao. Cậu ta nhìn thấy khói, bằng ký ức những ngày rỗng không, viết không xong, đọc sách không xong, chán người và cậu đã ra đây nhìn khói. Trong khói có mùi bắp nấu ngọt lành.

Cái kính dày như đít chai vẫn nằm im trong hộp. Từ khi rời nó, Harry hiền lành kỳ lạ, dịu dàng kỳ lạ, trên môi cậu luôn sẵn một nụ cười. Cứ thấy lờ mờ bóng người lại nhoẻn cười, vì lẫn lộn những người quen và không quen, không cười thì sợ phụ nhau. Nên một bữa tụi phù thủy hắc ám đi ngang qua chàng phù thủy nhỏ, bỗng hết hồn khi thấy cậu ta cười cực kỳ thân thiện, dễ thương. Cả câu bùa chú tàn khốc nhất cũng không làm cho kẻ ác rối bời như một nụ cười thương yêu, nồng hậu.

Cả Harry cũng ngỡ ngàng nhận ra, không nhìn đời khắc nghiệt bằng mắt nữa, bỗng dưng dịu lại những vết thương lòng.


XE ĐÊM

Nguyễn Ngọc Tư.

..................................................

Má dặn đi xe nhớ đừng ngồi trước, phía trước nguy hiểm lắm, nhưng cũng đừng ngồi mị đằng sau, cũng... ghê.

Có người buồn cười, những vụ tai nạn nghiêm trọng gần đây, trước sau gì cũng tan nát. Trời kêu ai nấy dạ. Má nổi quạu, mình phải tránh cái chỗ ông trời hay kêu chớ.

Vậy thì ngồi giữa. Có một chỗ núp ông trời nên chịu cực tí, chân không duỗi thẳng được, băng ghế chưa đến một sải tay nhưng chen chúc đến bốn người. Một bà già, một chị phụ nữ dẫn theo đứa con chừng 10 tuổi dồn người thứ tư ép sát vào thành xe. Mỗi khi muốn xoay trở, người thứ tư xếp vai mình ra đằng trước. Chị ta ghét cái chỗ ngồi này như ghét những chuyến xe đêm, ghét trạng thái mụ mị, vật vờ, tối tăm của nó.

Ngó ra những ngọn đèn mê mỏi bên đường, người thứ tư xem đồng hồ. Đoạn đường tỉnh lẻ - Sài Gòn xa khủng khiếp. Đứa bé tựa vào vai mẹ, ngủ ngon lành. Phía sau lặng ngắt, không phải vì tất cả đã ngủ mà họ đang vật vã với cơn say xe. Trong cái vũng đêm chênh chao, nghe tiếng mấy cái túi nilông cứ sột soạt, mùi nôn oẹ chua khẳm, mùi dầu gió hăng nồng, và khói thuốc lá bắt đầu trộn lẫn các thứ mùi với nhau, sánh đặc. Anh tài xế chống lại cơn buồn ngủ bằng một thứ được gọi là nhạc trẻ, kiểu như: “Không yêu đừng nói lời cay đắng”... Loại này chống buồn ngủ hiệu quả, vì không gây tức anh ách cũng khiến người ta phì cười.

Nhưng hai người phụ nữ ngồi bên cạnh thì chẳng tức, chẳng cười, cũng chẳng quan tâm không khí quặn mùi. Họ đang nói, và lúc này đây nói cũng là một cách thiền, bỏ sự đời qua một bên. Giọng bà già giòn tan, chị phụ nữ thì ngập ngừng, day diết. Trong những câu nói qua nói lại, lúc nhát gừng, ngắn ngủn, lúc chảy tràn, họ nhắc tới bệnh viện và bệnh ung thư. Chị phụ nữ lo lắng, giọng nói đôi khi hụt đi khi nhắc tới những từ như “xét nghiệm”, “đơn thuốc”, “hóa trị”. Bà già gạt đi, tay cứ xua xua như có con muỗi vo ve trước mặt, cuối mỗi câu bà già hay đệm mấy chữ: “Hổng sao. Đừng lo. Dễ ợt...”. Bà nói bà ra vô bệnh viện như cơm bữa, bà rành sáu câu, bà nuôi bệnh ung thư trong mình nè, nhưng sống phẻ re, bà đi hóa trị như đi du lịch. Nhưng giọng chị phụ nữ cứ như tái dại đi, yếu ớt, nghe như tuyệt vọng, con cái còn nhỏ quá, dì Sáu à, con sợ...

Đâu đó nghe tiếng thở dài. Xe đêm thường chở theo nó những tiếng thở dài, những người sắp, đã và đang đối đầu với bệnh tật. “Cô bác xuống bệnh viện nào?” luôn là câu hỏi của nhiều tài xế chạy đêm, họ biết con đường nào ngắn nhất, tiện nhất để đưa khách đến đó. Thường, khách có nhu cầu khám và chữa bệnh nhiều khi chiếm hơn một nửa chuyến xe, còn lại là những người buôn bán, về quê hay đi học... Ít có ai đi công cán mà chung chạ xe đêm. Chỉ những con bệnh tỉnh lẻ tối tối chảy trôi về thành phố, để sớm hôm sau họ có mặt ở các bệnh viện, phòng khám thật sớm, vạ vật chờ mở cửa, vạ vật chờ lấy được toa thuốc, kịp về chuyến xe tối, ở thêm một bữa là thêm gánh nặng tiền trọ, tiền ăn...

Và bà già tươi giòn kia chắc chắn bà không kịp về chuyến xe tối mai, vì phải nằm lại trong căn phòng trắng toát, vật vã, héo rũ sau đợt hóa trị. Người thứ tư nhìn bà đã bắt đầu thiu thiu ngủ, nghĩ thầm. Nghe có chút đau nhói. Chị ta ghét đi xe đêm, ghét sự thao thức, ghét người bạn đường đang sắp ngả đầu vào vai mình, tóc bà rủ vào cổ mình, nhồn nhột. Một mái tóc kỳ lạ, đen rợn, lúc ghé quán ăn khuya bên đường, đi ngang qua chỗ bà ngồi, người thứ tư không thể gỡ cái nhìn của mình ra khỏi màu tóc đó. Tự hỏi ở tuổi này, người ta còn gì để nắm níu, để tha thiết mà phải dùng tóc giả che giấu đi mái đầu đã xác xơ vì chống chọi cùng căn bệnh hiểm?

Bà không muốn nhớ tới tình trạng bệnh tật của mình khi mỗi ngày nhìn tóc rơi xuống đất. Hay bà mặc cảm xấu xí, người thứ tư nghĩ tới điều đó khi mớ tóc giả của bà già trong cơn gà gật đã tuột xuống tay chị ta. Những ánh đèn bên đường quét qua khuôn mặt mệt mỏi xanh xao, lướt nhanh trên mái đầu hiu hắt chỉ còn dăm ba sợi tóc của bà. Người thứ tư xếp vai mình, xoay người, trùm lại tóc cho người bạn đường. Vô tình chạm tay, bà già giật mình, thảng thốt, ngồi thẳng dậy, người thứ tư nói khẽ: “Tóc của dì tuột ra, con sửa...”. Bà gật đầu, không còn chút ngái ngủ nào, ngó qua người phụ nữ đang thở đều, bà thì thầm “con nhỏ có thấy... không?”. Người thứ tư lắc đầu, không đâu. Rồi tự hỏi chuyện tóc tai quan trọng đến thế sao!? Bà già cười một cái xào, tuồng như nhẹ nhõm lắm: “Sợ con nhỏ thấy rồi nó lo. Tội nghiệp, ở cùng xóm với dì mà, hiền lắm. Cô coi, bệnh tật nó đâu có chừa ai. Con nhỏ trẻ vậy...”.

Người thứ tư nghe một cơn lạnh buốt phà vào mặt, chị ta dựng cái áo khoác ngang mày. Nhưng tối như vầy có rưng nước mắt thì cũng đâu ai thấy, che chi mất công.

Chị ta so vai lại. Chỗ ngồi bỗng rộng thênh thang bởi có người thấy mình nhỏ bé.

Comments