Attractions‎ > ‎Architecture‎ > ‎

Architecture Sai Gon

Lý giải mỹ danh 'Hòn ngọc Viễn Đông' của Sài Gòn xưa

source: vnexpress.net

THỨ BẢY, 14 THÁNG 5 2016 00:31 VNEXPRESS
Viết emailIn

Từ vùng đất hoang vu, hơn trăm năm trước người Pháp muốn biến Sài Gòn thành "Hòn ngọc Viễn Đông" để cạnh tranh với các thuộc địa khác của Anh.

Vùng Viễn Đông theo địa lý gồm các nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Cuối thế kỷ 19, đầu 20, hầu hết các quốc gia này đều thành thuộc địa hoặc chịu ảnh hưởng của cường quốc phương Tây. Trong đó Pháp và Anh là hai nước xâm chiếm và mức độ cạnh tranh lớn nhất.  


Ngay sau khi chiếm được Nam kỳ, Pháp bắt tay vào việc xây dựng Sài Gòn. Ảnh: Tư liệu 

Sự cạnh tranh của Anh, Pháp trong việc “khai hóa” các nước thuộc địa. Từ những năm 1895, Pháp tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng ở thuộc địa nhằm phát triển kinh tế. Họ đặt tham vọng vượt mặt nước Anh tại Singapore và HongKong. 

Danh xưng "Hòn ngọc Viễn Đông" (La perle de l’Extrême Orient) xuất hiện để chỉ cho Sài Gòn. Đây được xem là thủ phủ của Đông Dương về kinh tế, giải trí để cạnh tranh với Singapore của người Anh.

Giai đoạn này, Sài Gòn từ thành phố hoang vu, được gọi là thị trấn giữa rừng (Prei Nokor) đã được người Pháp đầu tư xây dựng bài bản nhất so với các thành phố khác trong khu vực.

Dưới sự chỉ huy của trung tá công binh Coffyn, Sài Gòn được quy hoạch lại theo lối phương Tây. Giai đoạn này, khu vực trung tâm thành phố xuất hiện hàng loạt các công trình nổi bật còn tồn tại đến ngày nay như Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát thành phố, Dinh thống đốc, Phủ toàn quyền...

Tuyến đường Catinat (Đồng Khởi ngày nay) được ví như trái tim của Sài Gòn khi tập trung nhiều điểm vui chơi, giải trí của thành phố. Hàng loạt nhà hàng, khách sạn mọc lên dọc trục đường đã quy tụ giới tinh hoa, giàu có về tiêu xài, hưởng thụ.

Các công trình được xây trên khu đất đẹp, cao ráo, hướng ra dòng sông uốn lượn bao quanh là rừng. Trên kênh Lớn (đường Nguyễn Huệ nay) hay kênh Xáng (đường Hàm Nghi) có những khu chợ thông thương với sông Sài Gòn tấp nập người mua kẻ bán. Một thị trấn giữa rừng dần chuyển mình phát triển.

Những thương nhân ở Ấn Độ, Trung Quốc, châu Âu, Mỹ... khi dong thuyền vượt biển qua trao đổi, buôn bán đều ấn tượng với thành phố mới nổi này. Họ neo thuyền dọc cảng Bến Nghé, Bạch Đằng lên bờ mua vải vóc, lụa là, châu báu rồi ghé những khu vui chơi sầm uất gần đó. Những thương thuyền này sau đó truyền miệng nhau tên gọi “Hòn ngọc Viễn Đông” - mỹ danh của Sài Gòn ra khắp thế giới.


Tuyến xe lửa Sài Gòn - Gò Vấp năm 1910. Ảnh: Tam Thái

Giao thông đường thủy được người Pháp ưu tiên phát triển, kênh Bến Nghé – Tàu Hủ trở thành tuyến thông thương chính cho thuyền bè từ Đông Nam bộ, miền Tây vào sâu trong Sài Gòn đến vùng Chợ Lớn.

Hàng chục bến bãi bốc dỡ, chuyển hàng hóa mà tên gọi còn đến ngày nay như bến Hàm Tử, Bình Đông, Chương Dương, Vân Đồn, Bạch Đằng… Dọc theo hai kênh là đường bộ mà hiện nay là đường Võ Văn Kiệt và Bến Vân Đồn (quận 4), Bến Bình Đông (quận 8).

Ngoài tuyến đường thủy, để kết nối với khu Chợ Lớn và phía Tây Sài Gòn ngày nay, các đại lộ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Minh Khai... dần hình thành. Đặc biệt, khi xuất hiện chợ Bến Thành năm 1914, nhu cầu thông thương hàng hóa giữa khu vực trung tâm Sài Gòn và Chợ Lớn phát triển mạnh. Từ yêu cầu cấp thiết này, khu vực đầm lầy giữa Sài Gòn - Chợ Lớn được san lấp để mở đại lộ Trần Hưng Đạo ngày nay.

Năm 1885, tuyến đường sắt đầu tiên của Đông Dương dài 70 km nối Sài Gòn – Mỹ Tho cũng được xây dựng. Đây là tuyến đường sắt thứ hai do người Pháp xây dựng ở nước ngoài, sau tuyến đường 13 km ở Pondichéry (Ấn Độ) năm 1879. Ga tàu lúc đó nằm tại công viên 23/9 ngày nay, tuyến đường do nhà thầu Joret của Pháp thi công.

Tuyến đường sắt đã hút một lượng lớn khách ở Sài Gòn thời điểm đó. Chính quyền thuộc địa thu lời lớn từ dự án. Năm 1896, tổng lãi thu được từ tuyến đường sắt là 3,22 triệu francs, đến năm 1912 lãi 4 triệu francs.

Phía đông thành phố, năm 1902, cầu Bình Lợi được khánh thành đưa vào sử dụng. Cây cầu rút ngắn tuyến đường đi Thủ Đức, Biên Hòa, thông với đường thiên lý Bắc Nam (Quốc lộ 1 hiện nay) của người Việt xưa.

Nếu so sánh về hạ tầng cơ sở, cùng thời, Sài Gòn bỏ xa Bangkok và Singapore. Nhưng lúc bấy giờ, Singapore có tầm quan trọng lớn về chiến lược khi nằm trên tuyến đường biển quốc tế, nơi thông thương của thương thuyền trên thế giới. Lúc này, Singapore cũng là hải cảng lớn nhất khu vực.

Theo Kiến trúc sư Khương Văn Mười, lúc Sài Gòn được xem là “Hòn ngọc Viễn Đông” thì thành phố có quy mô nhỏ, phạm vi chỉ gói gọn ở trung tâm Sài Gòn ngày nay. Mỹ danh này cũng sớm kết thúc vào giữa thế kỷ 20.

Do chiến tranh cũng như người dân nông thôn đổ về thành phố ngày một đông khiến nó bị quá tải. Sài Gòn xuất hiện nhiều khu ổ chuột, người dân sống nhếch nhác ven kênh rạch, điều kiện vệ sinh, an ninh kém.


Kênh rạch ở Sài Gòn tràn ngập nhà ổ chuột trước năm 1975. Ảnh: Life

Còn PGS.TS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Kinh tế Việt Nam - cho rằng, thập niên 60-70, Sài Gòn vẫn được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" - thành phố được định danh duy nhất ở khu vực. Trong khi Singapore lúc đó chỉ là đảo quốc hoang vu, Bangkok cũng ít người nhắc đến. Những quốc gia này lấy Sài Gòn như hình tượng để phát triển theo.

"TP HCM hiện phát triển hơn nhiều so với thời Hòn ngọc Viễn Đông nhưng những bước tiến đạt được chưa tương xứng tiềm năng, chưa đáp ứng yêu cầu đua tranh với các thành phố có vị thế, chức năng tương tự trên thế giới. Những thành phố như Bangkok, Singapore, Busan... đã vượt lên, dù TP HCM có xuất phát điểm tốt hơn", ông Thiên nói.

Viện trưởng Kinh tế cho rằng, quan điểm của Việt Nam những năm gần đây đã thay đổi và đây là cơ hội để đưa cả nước và TP HCM lên đẳng cấp mới.

Theo nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP HCM lần thứ X, Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng mong muốn đưa thành phố trở lại vị trí dẫn đầu. Ông thể hiện quyết tâm lấy lại mỹ danh "Hòn ngọc Viễn Đông" nức tiếng một thời mà quốc tế đã nói về Sài Gòn. 

Sơn Hòa 
(VnExpress)  

------------------------------

Những tòa nhà lịch sử trong khuôn viên UBND Thành phố Hồ Chí Minh


CHỦ NHẬT, 31 THÁNG 7 2016 07:08 DOTHIVIETNAM.ORG
Viết emailIn

Khuôn viên UBND thành phố Hồ Chí Minh, được bao bọc trong các con đường Lê Thánh Tôn (Espagne) – Pasteur (Pellerin) – Lý Tự Trọng (La Grandière, Gia Long) – Đồng Khởi (Catinat, Tự Do), có một vị trí đặc biệt trong không gian đô thị Sài Gòn từ những buổi đầu: nó là một phần của thành Quy và là điểm cuổi của một con kinh dẫn thẳng ra sông Sài Gòn.  

Thành Bát Quái-thành Quy tồn tại từ năm 1790, do Nguyễn Ánh xây dựng trên khu đất gò thôn Tân Khai để thiết lập Gia Định kinh với chu vi 3,8 km cho đến khi bị phá hủy năm 1835. Thành được xây theo kiểu Vauban bằng đá tảng Biên Hòa, gạch nung, hay đắp bằng đất tùy chỗ, do Lebrun vẽ họa đồ và kỹ sư Victor Olivier de Puymanel trông coi việc xây dựng. 

Hiện ngã tư Lê Thánh Tôn – Pasteur là góc phía Nam của thành và đoạn đường Đồng Khởi từ Lý Tự Trọng đến Lê Thánh Tôn chính là một trong 8 cổng thành, do đó ngay ô đất UBND hiện tại, đường Pasteur và Đồng Khởi có một độ dốc xuống nhẹ khi ra khỏi khu vực thành cũ. Trong đợt khảo sát năm 1926, Jean Bouchot đã khám phá một phần di tích bức tường thành này ở một hố khai quật tại góc đường Đồng Khởi – Lý Tự Trọng.

Trên khu đất này, hai tòa nhà 86 Lê Thánh Tôn và 59-61 Lý Tự Trọng đã được đưa vào danh sách bảo tồn cảnh quan kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh và danh mục các công trình bảo tồn và được công nhận di sản văn hóa theo thông báo số 46/TB-UBQLĐT ngày 17/5/1996 của Ủy ban nhân dân thành phố.

Tòa nhà 86 Lê Thánh Tôn

Sau khi chiếm được một số tỉnh của Nam Kỳ, đến năm 1870, chính quyền Pháp mới bắt đầu nghĩ đến việc xây dựng một nhà làm việc chính thức cho Hội đồng thị xã. Khu Kinh Lấp (đường Nguyễn Huệ) đã được lưu ý đầu tiên, nhưng vẫn còn e ngại về vấn đề đổ móng xây nền vì nơi đây là vùng đất bùn nên dự án kéo dài trong nhiều năm. 

Hội đồng thị xã do một xã trưởng Tây đứng đầu nên được gọi là Dinh xã Tây (còn có tên Dinh đốc Lý) chính là tòa nhà UBND hiện nay, tên tiếng Pháp Hôtel de Ville. Thời kỳ thuộc chính quyền Sài Gòn, một chức Ðô trưởng được đặt ra để trông coi thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn mà trụ sở đặt tại đây, nên dinh này được đổi tên là tòa Ðô Chính, hay còn gọi là tòa Đô sảnh. Theo bản đồ năm 1958, cánh trái của của tòa nhà còn được dùng làm Tòa Thị Sảnh quận 1 (số 113 trong bản đồ).


Bản đồ 1958

Dinh xã Tây bắt đầu được xây dựng từ 1898 và hoàn thành năm 1908 theo họa đồ của kiến trúc sư Femand Gardès, riêng phần trang trí ban đầu do họa sỹ-điêu khắc gia Ruffier đảm trách. Tổng chi phí khoảng một triệu rưỡi franc. Năm 1909 tòa nhà được khánh thành với sự tham dự của viên toàn quyền Ðông Dương nhân kỷ niệm 50 năm duy trì chánh quyền thực dân Pháp tại Sài Gòn (1859-1909).

Tòa nhà là một kiến trúc biểu tượng của thành phố, gắn liền với ký ức của nhiều thế hệ công dân. 30 mét mặt tiền là trích dẫn hầu hết các yếu tố tạo thành phong cách kiến trúc thời Đệ tam cộng hòa Pháp (1870-1940): tháp chuông, cột Hy Lạp, tràng hoa, huy hiệu. Các chi tiết trang trí được thực hiện với độ tinh xảo cao. Chính giữa mặt tiền là một kiểu trang trí đắp nổi có hình dáng một người phụ nữ mạnh khỏe và một đứa bé đang chế ngự thú dữ, hai bức đắp nổi người phụ nữ cầm gươm ở hai bên tượng trưng cho nước Pháp đi chinh phục thuộc địa. Màu sơn từng được sử dụng cho tòa nhà là trắng hoặc vàng. Về trang trí nội thất, ít có công trình nào sánh được về tính cầu kỳ, đa dạng bởi sự kết hợp giữa kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Phía trước dinh là một bãi cỏ rộng có ghế đá và bồn kèn – nơi ban nhạc của hải quân Pháp trình diễn cho công chúng xem, hiện nay nơi này là quảng trường đặt tượng ‘Hồ Chí Minh và thiếu nhi’, tác phẩm điêu khắc của họa sỹ Diệp Minh Châu.

Tòa nhà 59-61 Lý Tự Trọng

Vị trí này trước đây là tòa nhà Nha giám đốc nội vụ, người dân gọi là Dinh Thượng Thơ, do chính quyền xứ Nam Kỳ xây vào những năm 1860 với vai trò điều hành trực tiếp của các Thanh tra sự vụ bản xứ về toàn bộ các vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa, về mặt hành chính đương thời chỉ quan trọng sau Dinh Norodom (phiên bản trước của Dinh Thống Nhất ngày nay).

Cho đến năm 1888, chức năng của cơ quan này được nhập vào Thơ Ký Thống đốc Nam kỳ (vị trí 213 Đồng Khởi) và bản đồ năm 1890 cho thấy một tòa nhà quy mô lớn hơn được xây dựng như hiện nay. Vào đầu thế kỷ 20, cơ quan này còn có tên là Văn phòng chính phủ cùng các bộ phận như thanh tra lao động và office colonial du combattant (tiếng Việt?).


Bản đồ 1890

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tòa nhà có một giai đoạn ngắn được dùng làm trụ sở Bộ nội vụ, kể từ năm 1955 là Bộ kinh tế của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tòa nhà còn xuất hiện trong phim Người Mỹ thầm lặng bản năm 1958. Hiện nay tòa nhà là trụ sở của Sở Công thương và Sở thông tin-truyền thông.

Tòa nhà được xây theo kiến trúc thuộc địa Pháp, nay đã hơn 120 năm tuổi và vẫn còn giữ được chiếc cổng sắt được thiết kế tinh xảo và lối vào lát đá xanh.

Tòa nhà 213 Đồng Khởi

Trong 60 năm đầu xâm lược thuộc địa, nơi đây là vị trí đặt văn phòng Thơ Ký Thống đốc Nam kỳ (bản đồ 1890) nhưng tòa nhà này đã bị phá dỡ vào cuối thập niên 1920. Năm 1929-1930, người ta xây dựng tòa nhà mới và trở thành một trong những tòa nhà có đẳng cấp bậc nhất thành phố. Ở phía đường Lê Thánh Tôn, theo bản đồ năm 1958, giữa tòa nhà UBND và 213 Đồng Khởi vẫn còn một công viên nhỏ mang tên Chí Linh trước khi được xây thêm như ngày nay (số 58 trên bản đồ).

Nơi đây từng đặt lãnh sự các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Cơ quan tài chính Đông Dương, công ty tài chính Gia Định, công ty bất động sản Đông Dương, tòa soạn tuần báo kinh tế tài chính Đông Dương. Tòa nhà cũng là một trung tâm thời trang cao cấp, nơi đặt cửa hiệu của các nhãn hàng như Marguerite, Blessy and Galeries Lafayette và một trung tâm chăm sóc sắc đẹp. Phần còn lại của tòa nhà được dùng làm căn hộ. Tòa nhà này cũng được đề cập đến trong tiểu thuyết Người Mỹ thầm lặng của Graham Grene.

Tòa nhà được xây theo phong cách art-deco, mặt tiền được làm bằng đá phiến màu xám và là một trong hai mặt tiền hiếm hoi còn lại theo phong cách này ở trục đường Đồng Khởi. Tòa nhà chịu nhiều sức ép phát triển do không nằm trong danh sách bảo tồn của quy hoạch khu trung tâm và đã bị tháo dỡ bởi đơn vị chủ quản là công ty TNHH một thành viên Quản lý kinh doanh nhà thành phố.

Tòa nhà 63 Lý Tự Trọng

Thời Pháp thuộc nơi này là Dinh Tổng Chưởng lý (xem bản đồ 1890). Trước 1975 đây là trụ sở của Bộ quốc phòng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tháng 11 năm 1963 tòa nhà đã bị nhân viên ở đây phóng hỏa nhằm thủ tiêu tài liệu sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm. Hiện nay nơi đây là trụ sở của Sở giao thông vận tải và Sở Tài nguyên-Môi trường và vẫn còn giữ kiến trúc thời trước 1975. 

Nguyễn Thanh Việt / DothiVietNam.org 

Tổng hợp từ các nguồn: 
- Trần Hữu Quang, Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2012
- Lê Quang Ninh và Stéphane Dovert, Saigon: Architectures, 1698-1998, Ho Chi Minh city: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1998
- Guide practique, reseignements et adresses, Saigon. Édité par J.Aspar, Imprimeur – Libraire 24, rue Catinat – Saigon
- Nguyễn Đức Hiệp, Saigon Đường Catinat đầu thế kỷ 20
- L. de Coincy, Quelques mots sur la Cochinchine en 1866, p 94 95
- Philippe Devillers, 1998, Người Pháp và nười Annam – Bạn hay thù?, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, dịch và xuất bản 2006 

THỨ HAI, 20 THÁNG 7 2015 07:45 THANH NIÊN
Viết emailIn

Cách đây gần 140 năm, người Sài Gòn đã được sử dụng nước sạch qua xử lý khử trùng cung cấp đến tận nhà.

Thời Pháp thuộc, Sài Gòn là thủ phủ và là trung tâm kinh tế quan trọng nhất ở Nam kỳ, cho nên việc cấp nước cho Sài Gòn là vấn đề cấp bách đặt ra cho nhà quy hoạch đô thị thời bấy giờ.  

Khai thác nước ngầm dưới lòng đất

Năm 1862, dự án thiết kế đầu tiên cho thành phố Sài Gòn được phê duyệt trong đó có vấn đề cấp nước. Năm 1880, người Pháp đã đưa vào hoạt động một hệ thống cung cấp và phân phối nước đầu tiên ở Sài Gòn. Hệ thống khai thác nước ngầm có tên là Thévenet (tên của viên kỹ sư cầu đường, Giám đốc Sở Công chính lúc bấy giờ) được xây dựng ở vị trí hồ Con Rùa hiện tại, có khả năng cung cấp nước từ 1.000 m3 đến 1.500 m3 một ngày. 


Tháp nước gần 140 năm tuổi trong khuôn viên Sawaco
 (Ảnh: Trung Hiếu) 

Trong các năm tiếp theo, chính quyền Pháp đã xây dựng một loạt captage (cụm giếng cạn) để cung cấp nước cho Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1884, xây dựng hai cụm captage Blancsubé và Mac Mahon; năm 1896, xây dựng Nhà máy bơm Duy Tân; năm 1898, xây dựng cụm captage Chợ Lớn, Tân Hưng để cung cấp nước cho khu vực Chợ Lớn. 

Trong các captage kể trên thì cụm Blancsubé và Mac Mahon là hai cụm giếng cạn quan trọng nhất. Cho nên tên của hai captage này được đặt theo tên của hai nhân vật nước Pháp có sức ảnh hưởng lúc bây giờ. Mac Mahon là tên của Tổng thống Pháp từ năm 1873 đến 1879, Blancsubé từng là thị trưởng của Sài Gòn. 

Captage là cụm gồm nhiều giếng cạn. Mỗi giếng có đường kính từ 1,6 m đến 2,2 m, sâu từ 13 m đến 22 m. Vách giếng ban đầu xây gạch nhưng về sau được làm bằng bê tông cốt thép. Thường mỗi captage có từ 10 - 20 giếng cạn. Các giếng cạn trong hệ thống captage thường được bố trí theo hình tròn đưa nước về giếng trung tâm nằm ở giữa. Từ giếng trung tâm, nước sẽ được xử lý, khử trùng rồi được bơm vào các hồ chứa, thủy đài hoặc đưa thẳng ra đường ống phân phối cho người dùng.

Nước sạch thời kỳ này sản xuất không nhiều nên người Sài Gòn chỉ sử dụng để nấu ăn, nước uống. Trước hẻm một số con đường lớn ở trung tâm TP có trụ nước, người dân xếp hàng dùng thùng đựng dầu hôi chừng 20 lít đem về đổ đầy lu xài dần. Còn tắm giặt và rửa ráy, người dân sử dụng nước từ kênh rạch lúc đó còn rất sạch sẽ, trong lành. 

Được công nhận di tích kiến trúc

Dấu tích của hệ thống cấp nước gần 140 năm tuổi ở Sài Gòn hiện không còn nhiều. Dấu tích của captage Blancsubé còn vài giếng cạn trong công viên trước dinh Thống Nhất và công viên Tao Đàn. Captage Mac Mahon còn một vài giếng cạn trong Nhà thi đấu Phan Đình Phùng, đường Võ Văn Tần, Q.3.

Nhà máy bơm Duy Tân sau này được cải tạo, làm lại sàn để làm nơi làm việc của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) tại đường Võ Văn Tần, Q.3. Còn hệ thống giếng trung tâm của captage Gò Vấp nằm trong khuôn viên công viên Gia Định cũng được cải tạo, lót lại sàn để lấy chỗ làm việc cho đội thi công tu bổ của Công ty cấp nước Trung An - một công ty con thuộc Sawaco.

Ngoài tháp nước ở địa điểm hồ Con Rùa (được xây dựng năm 1878 và đập bỏ năm 1921), còn có một tháp nước xây dựng năm 1886 nằm trong khuôn viên Sawaco. Hiện tháp nước này được công nhận là di tích kiến trúc của TP.HCM. 

“Ẩn số” thủy đài

Ngoài tháp nước thời Pháp hiện diện trong khuôn viên Sawaco, hiện ở TP.HCM vẫn còn rất nhiều tháp nước “khủng” được xây dựng trước năm 1975, nằm rải rác ở đường Hoàng Diệu (Q.4), Hồ Văn Huê (Q.PN), Ba Tháng Hai (Q.10)...

Lý do ra đời của những tháp nước trên là năm 1966, Nhà máy nước Thủ Đức hoàn thành, Sài Gòn không còn thiếu nước sạch. Tuy nhiên, do nhà máy đặt ở Thủ Đức nên nước chảy về trung tâm khá yếu, nhất là vùng ngoại thành. Các thủy đài hình nấm được xây dựng nhằm nâng áp lên, cung cấp nước cho những vùng ở xa như Q.8, Gò Vấp, Nhà Bè...

Thời gian này, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng 8 thủy đài lớn có dung tích tổng cộng hơn 48.500 m3 và 12 thủy đài nhỏ tổng cộng dung tích gần 13.000 m3 nằm rải rác ở trung tâm thành phố. Tuy nhiên, khi các thủy đài này sắp hoàn thành thì xảy ra biến cố 30.4.1975 thống nhất đất nước. Đến nay các thủy đài chưa một lần sử dụng.

Sawaco nhiều lần mời chuyên gia tới khảo sát tháp nước để tìm phương án vận hành nhưng chưa ai đưa ra được hướng khả thi. Đến nay hướng xử lý các thủy đài hình nấm khổng lồ giữa trung tâm TP vẫn là “ẩn số” chưa có đáp án. 

Trung Hiếu 
(Thanh Niên)  

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Source: Asui.com

Sài Gòn ở tuổi hơn 300 - TP.HCM ở tuổi 40, đang nằm trong những bước chuyển mạnh mẽ của diện mạo kiến trúc đô thị. Nhân lễ trao các giải thưởng bình chọn Kiến trúc sư của năm và Công trình kiến trúc của nămgiải thưởng kiến trúc Ashui vừa được tổ chức tại TP.HCM cuối tuần qua với hầu hết cá nhân và tổ chức chiến thắng đều đang là cư dân TP.HCM, một câu hỏi được Tiêu điểm tuần này đặt ra với các khách mời là: Nói gì về công trình kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM hôm nay?

Dấu ấn thời Pháp thuộc


Lăng ông Bà Chiểu - một trong những công trình kiến trúc độc đáo tại Sài Gòn- TP.HCM

Sài Gòn - TP.HCM đã có tuổi trên 300 năm. Nhưng nói về những công trình kiến trúc tiêu biểu, đa số chúng ta đề cập đến các công trình do người Pháp xây dựng từ sau 1859 cho đến khi họ rút khỏi Việt Nam.

Khoảng thời gian trước 1859, ở Sài Gòn - Gia Định đã có thành Bát Quái theo phong cách Vauban xây khoảng năm 1780 (Vauban, 1633-1707, tên thật Sebastien LePrestre, chuyên gia xây thành lũy gốc Pháp). Từ sau 1859 cho đến 1930, người Pháp cho xây một số công trình kiến trúc tiêu biểu như Dinh Norodom năm 1862, sau này là trụ sở làm việc của những người đứng đầu chính quyền chế độ Sài Gòn, với tên là Dinh Độc Lập. Sau đó dinh này bị phá bỏ để xây lại mới, cũng mang tên là Dinh Độc Lập do KTS Ngô Viết Thụ thiết kế (tức Dinh Thống Nhất hiện nay).

Các công trình do người Pháp xây dựng tiêu biểu ở Sài Gòn tồn tại đến hôm nay khá nhiều: Tòa án Thành phố (thiết kế 1881), Dinh Gia Long (xây dựng năm 1885, nay là Bảo tàng Cách mạng), Khách sạn Continental (xây năm 1880), Khách sạn Majestic xây dựng cùng năm với Nhà thờ Đức Bà (1877), Bưu điện Sài Gòn (xây dựng từ 1886 đến 1891 hoàn thành), Tòa Đô chính, hay còn gọi là Dinh Xã Tây, nay là UBND TP.HCM xây khoảng năm 1907, Nhà hát Lớn TP.HCM khánh thành ngày 1/1/1900, Chợ Sài Gòn tức chợ Bến Thành xây dựng từ 1912 đến 1914 khai trương, Bảo tàng Lịch sử Sài Gòn nằm bên trong Thảo Cầm viên thành lập khoảng từ 1927 đến 1938, Kho bạc Sài Gòn xây dựng cuối năm 1920…

Ngoài các công trình công sở và công cộng, các trường học xây dựng thời Pháp thuộc cũng để lại nhiều nét đặc trưng về kiến trúc. Ví dụ, như: Trường nữ sinh Gia Long hay còn gọi Trường nữ Áo tím do trường chỉ toàn nữ sinh và mặc áo dài màu tím, nay là Nguyễn Thị Minh Khai, khởi công xây dựng 1913. Trường Trung học Chasseloup-Laubat, tức Trường Lê Quý Đôn ngày nay, khởi công xây dựng năm 1874. Trường tư thục Bác Ái, tên tiếng Pháp là College Fraternite xây dựng năm 1908, do người Hoa thành lập, sau 1975 là Trường Cao đẳng Sư phạm và nay là Đại học Sài Gòn. Trường Marie-Curie chính thức thành lập, xây dựng năm 1918. Trường Petrus Ký là chi nhánh của Trường Chasseloup-Laubat, nay là Trường Lê Hồng Phong, xây dựng năm 1925…

Trước thời kỳ này, Nhà Nguyễn cũng để lại nhiều lăng tẩm và chùa chiền nổi tiếng trên đất Sài Gòn. Về lăng tẩm nổi tiếng, như: Lăng ông Bà Chiểu, tức Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt được xây dựng khoảng năm 1827, tức là sau khi Tả quân Lê Văn Duyệt mất, Vua Minh Mạng ban tiền và gấm để lo lễ tang và chôn cất; kế đó là Lăng Trương Tấn Bửu và nhiều chùa nữa. Lăng ông Bà Chiểu được coi là biểu tượng của Sài Gòn - Gia Định về công trình tâm linh.

Khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, miền Nam với chính quyền Sài Gòn tồn tại từ 1954 đến 30/4/1975. Thời gian này chính quyền Sài Gòn chia ra hai giai đoạn: Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa. Đệ nhất cộng hòa để lại công trình nổi tiếng là Dinh Độc Lập tức Dinh Thống Nhất ngày nay. Đệ nhị cộng hòa cho xây Thư viện Quốc gia và nhiều công trình khác. Giờ đây nhiều công trình còn tồn tại nhưng bị sửa chữa, biến dạng nhất là sau 1975, một số không còn nữa.

Từ những điều vừa nêu, theo tôi các công trình nổi bật của Sài Gòn - TP.HCM được xây thời Pháp thuộc và nhà Nguyễn, có thể kể: Tòa nhà UBND TP.HCM, Nhà hát Lớn, Lăng ông Bà Chiểu, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Tòa án Thành phố, Chợ Sài Gòn, Chợ Tân Định, Trường Lê Quý Đôn, Trường Nguyễn Thị Minh Khai, Trường Đại học Sài Gòn... Những công trình sau này của chế độ Sài Gòn, như: Dinh Độc Lập, Thư viện Quốc gia.

Các công trình được người Pháp xây dựng có nhiều nghiên cứu. Nó tiêu biểu cho nền văn hóa nghệ thuật của Pháp và là bài học cho những ai yêu thích nghệ thuật kiến trúc và mỹ thuật. Các công trình này có sự phối hợp của các kiến trúc sư, kỹ sư, nhà trang trí, nhà điêu khắc… Họ xây dựng chu đáo phù hợp với khí hậu nhiệt đới của Việt Nam. Các hồ sơ bản vẽ họ đều lưu trữ và báo trước chủ sử dụng (là người Việt sau 1975) về thời hạn an toàn của công trình. Nhưng mãi cho đến nay, các công trình trên 100 năm vẫn sử dụng tốt. Còn chúng ta hiện nay, xây dựng chưa hoàn công đã có vấn đề.

Tôi ấn tượng hai công trình kiến trúc do kiến trúc sư Việt Nam thiết kế: Dinh Độc Lập và Thư viện Quốc gia. Đây là hai công trình tiêu biểu cho kiến trúc phương Tây kết hợp với văn hóa Việt vô cùng tinh tế và thẩm mỹ. Riêng công trình kiến trúc lăng tẩm cổ của người Việt trước khi người Pháp xâm lược Việt Nam là Lăng ông Bà Chiểu, đây là công trình tâm linh nổi tiếng cả nước và Đông Nam Á tồn tại trên đất Sài Gòn - TP.HCM.

Như đã nói, ngoài những công trình đã gây ấn tượng tốt trong tôi thì có một số công trình đã gây ấn tượng không vui trong tôi với tư cách là một người yêu thích mỹ thuật. Đặc biệt là người sinh ra, lớn lên trên mảnh đất Sài Gòn - Gia Định như tôi. Một số công trình cũ được sửa chữa, bảo tồn, không đạt yêu cầu. Ví dụ Nhà hát Lớn, thì sau đợt sửa chữa, người ta cho phục dựng lại 2 pho tượng giống như nguyên thủy, nhưng tỷ lệ hai tượng này quá mập, không đạt yêu cầu như nguyên thủy. Chưa kể họa tiết trên cửa sổ chưa đúng. Giá mà chúng ta nghiêm túc hơn, trách nhiệm hơn trong nghiên cứu, thi công và giám sát khi bảo tồn, phục dựng các công trình, tòa nhà trên 100 năm tuổi của Sài Gòn thì hay biết bao?!

Tôi rất đau lòng trong gần 40 năm qua về sự biến dạng của Lăng ông Bà Chiểu vì sự ấu trĩ, thiếu văn hóa của một số người sau năm 1975. Và dấu tích của sự đau lòng ấy vẫn ngang nhiên tồn tại cho đến hôm nay, năm 2015. Lăng ông Bà Chiểu là kiến trúc Việt Nam độc đáo. Nhưng vào năm 1977 người ta dự định phá bỏ lăng ông để làm Nhà văn hóa Thiếu nhi Q.Bình Thạnh và họ đã cho phá toàn bộ vòng rào bằng men gốm để xây hàng rào sắt mới với họa tiết chiếc lá cho phù hợp với thiếu nhi. Mấy con nghê trên cổng bị gỡ bỏ.

Sau đó vì công chúng phản đối, nhà thiếu nhi không xây dựng được nhưng người ta cho xây sửa các cổng phụ cho cao hơn hợp với chiều cao hàng rào họa tiết thiếu nhi và dựng thêm mái cổng không giống ai. Người ta đã vô ý thức khi nối cao trụ cổng bằng sắt “ấp chiến lược” để làm sườn đỡ mái ngói giả. Đây là dấu vết phản văn hóa hiện còn tồn tại ở công trình hơn 100 năm tuổi tiêu biểu của Sài Gòn - Gia Định. Thiết nghĩ Nhà nước cần có tiểu ban khảo sát, điều tra và chỉnh sửa lại những khu vực lăng ông bị biến dạng phản văn hóa, phản thẩm mỹ. Bản thân tôi sẵn sàng cung cấp những hình ảnh phản văn hóa đó để dẹp bỏ, phục dựng lại nguyên trạng ban đầu.

Họa sĩ Huỳnh Văn Mười - Chủ tịch Hội Mỹ thuật TP.HCM

Nhà thơ Bùi Chí Vinh: Tôi thích Dinh Độc Lập

Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, công trình đập vào mắt của dân Sài Gòn chính là Nhà thờ Đức Bà và chợ Bến Thành, sau đó thì đến Dinh Gia Long và Dinh Độc Lập, cuối cùng là Tòa Đô chính và Lăng ông Bà Chiểu. Trong các công trình kiến trúc vừa liệt kê, tôi ấn tượng mạnh với Dinh Độc Lập. Đây là công trình xây dựng mang tính nghệ thuật của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (người giật giải Khôi nguyên La Mã về kiến trúc).

Dinh Độc Lập có từ thời Pháp thuộc, sau nhiều đợt dội bom đảo chính quân sự đã được chính quyền Sài Gòn xây dựng lại mới hoàn toàn, như hình thức hiện nay. Nơi đây có những căn phòng đặc biệt treo những họa phẩm quý giá của các danh họa Việt Nam. Chưa kể nó còn là biểu trưng của Hòn Ngọc Viễn Đông ngày nào với tầm nhìn chính diện ra các công viên tươi đẹp chung quanh.

(Theo Thể thao & Văn hóa Cuối tuần)

Comments